
Kinh nghiệm gặp gỡ Người Sống Lại từ cõi chết và lời đề nghị của người sống lại.
Lịch sử của đế quốc Roma ghi lại một cái chết của một người Do thái ở Giêrusalem không mấy vui. Án tử hình được đẩy qua đẩy lại giữa quyền lực của đế quốc và quyền lực của tôn giáo. Biến cố xảy ra vào thời điểm quan trọng nhất của cử hành tôn giáo: Tuần Lễ Vượt Qua, và cũng là thời điểm nhạy cảm của những con mắt chính trị đặt khắp nơi để khống chế sự nổi loạn của dân bị áp bức. Bản án được công bố giữa công trường đông đảo hơn bao giờ hết, cái chết thực hiện giữa mọi người và được kiểm tra kỹ lưỡng, ngôi mộ được canh gác cẩn thận. Mọi người thở phào nhẹ nhõm vì Lễ Vượt Qua vẫn được cử hành. Thủ lãnh tôn giáo an lòng vì đền thờ vẫn còn đó, Luật Moise được tiếp nối, và lòng mộ đạo cổ kính không còn bị đe dọa. Quan toàn quyền cũng tạm gác lại chuyện thế sự để nghỉ ngơi vì không còn lo sợ mất chiếc ghế quyền lực. Hoàng Đế không sợ mất đi nguồn thu cho những cuộc chinh chiến nới rộng bờ cõi và những tiệc mừng chiến thắng linh đình. Một cuối tuần đầy biến động của một năm không thể quên trôi qua cách bình thường, trừ những người thân của người bị án tử. Họ lấy xác xuống khỏi thập giá, làm những nghi thức vội vàng theo truyền thống, an táng theo phong tục, và sống tiếp với biến cố làm cuộc sống họ chấn thương đến tột cùng và những vết thương ấy không biết bao giờ mới lành. Thế rồi, ngay ngày đầu tuần kế tiếp đó, người đàn ông mà họ chôn cất hiện ra trước mặt họ, gọi tên họ, chào đón họ, ăn uống với họ, và bình thản như thể ông vừa trở về sau một chuyến đi dài. Ông cho mọi người xem những kỷ vật của chuyến đi là những vết thương khi ông bị tra tấn và lỗ đinh khi ông đóng đinh vào thập giá. Những người thân lúc này bao gồm họ hàng, học trò, những người quen biết, họ không biết nên khóc hay nên cười. Một nỗi đau với những vết thương chưa lành giờ đây được tiếp nối với một niềm vui lớn lao đến độ không thể nghĩ ra. Kinh nghiệm đứng giữa ranh giới của nỗi đau tột cùng và niềm vui không tưởng tượng được của những người đầy giới hạn làm họ muốn chấp nhận cái chết và dám tin sự phục sinh.
Con người từ cõi chết sống lại đang đứng trước họ và cho thấy những vết thương của ông, nhưng không phải ai cũng thấy ông. Con người ấy mời họ ngắm nhìn những vết thương của một nỗi đau mà bây giờ đã là quá khứ, tặng cho họ những gì cần thiết nhất ở hiện tại là sự bình an, và đề nghị họ bước vào những gì sẽ đến trong tương lai. Ngay lập tức, tất cả những gì liên hệ đến con người này bỗng trở nên chiếc chìa khóa để mở ra cho mọi người ý nghĩa về sự tồn tại của thế giới tạo vật, của toàn bộ lịch sử, và của từng con người trong thế giới này từ tạo thiên lập địa cho đến tận cùng, không trừ một ai. Từ nơi con người này, ranh giới của một thế giới hay chết và một thế giới mới mẻ và vĩnh cửu được xóa nhòa. Với con người này, bên kia cái chết không còn là một bí mật đáng sợ, nhưng từ cái chết, con người bắt đầu cuộc sống bất tử của mình. Mọi người rồi sẽ kinh nghiệm cái chết, nhưng giờ đây nó chỉ là Lễ Vượt Qua. Thập Giá cuộc sống vẫn còn đó, nhưng giờ đây là tiếng hát mừng phục sinh Alleluia. Và từng thế hệ, với bản tính yếu hèn làm cho tội lỗi vẫn còn đầy trong hiện hữu họ, nhưng Thiên Chúa lớn hơn nhiều cõi lòng của họ và độ sâu của cõi lòng đó không lời nào nói ra được. Một niềm hy vọng mới được trao cho con người và một lời đề nghị mang niềm hy vọng này đến tận cùng trái đất được người phục sinh ấy để lại trong trần thế cho những ai có kinh nghiệm gặp gỡ chính ông. Người phục sinh đề nghị loan truyền kinh nghiệm đó cho mọi người, mọi nơi cho đến ngày tận thế.
Biến cố này tại Giêrusalem trở thành sự chi phối chính cho toàn bộ lịch sử con người. Thế giới con người vẫn tiếp tục và mọi sự diễn tiến khá suôn sẻ; nhưng những luồng lý trí tinh hoa của thế giới bắt đầu xuất hiện sự rối bời về/với biến cố này. Những quy luật nền tảng của logic được xây dựng khá vững chắc cho sự vận hành của xã hội vẫn còn được áp dụng và đứng khá vững; nhưng biến cố này đã bắt đầu làm cho những quy luật đó mờ dần, không còn rõ ràng nữa. Cái thế giới cũ kỹ và những ý nghĩa mà trên nó, thế giới được xây dựng bắt đầu bị lung lay. Bởi lẽ, biến cố phục sinh ở Giêrusalem mà Thiên Chúa thực hiện nơi con người đã chết đó, là người Con của Ngài, là một ân sủng Ngài thực hiện rất tự do ở một điểm nằm bên kia cái chết, một điểm mà không có một lý trí nào, không một tạo vật nào có thể hình dung nổi. Chính vì thế, biến cố này như là một kết thúc trọn vẹn (cho sự cũ kỹ của thế giới cũ) và là một khởi đầu trọn vẹn cho một ý nghĩa duy nhất của thế giới vũ trụ, vốn đã trôi qua hằng triệu tỷ năm, và rồi sẽ biến mất, để đạt tới một thực tại mới, một sự hiện diện mới, một viễn cảnh mới, sự vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Kinh nghiệm gặp gỡ với con người phục sinh này sẽ giúp người có kinh nghiệm một cú nhảy giữa hai thế giới đó.
Lịch sử ghi lại những kinh nghiệm này theo dòng thời gian, bắt đầu từ biến cố ở Giêrusalem ấy. Phaolô, một người mà kinh nghiệm gặp gỡ với người phục sinh đó của ông xảy ra giữa mọi người, và theo cách nói của ông: “mọi sự là rơm rác so với cái lợi tuyệt vời là gặp-biết Giêsu”, con người phục sinh ở biến cố Giêrusalem. Từ kinh nghiệm gặp gỡ ấy, Phaolô thực sự đã chết với con người cũ và từ thế giới của sự chết, Phaolô đã thốt lên: “tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống, mà là Giêsu sống trong tôi.” Giêsu phục sinh sống trong tôi. Dòng máu chảy trong con người tôi lúc này là máu của Giêsu phục sinh. Tư tưởng của tôi lúc này là của “Giêsu bị đóng đinh” là khôn ngoan của Thiên Chúa. Một cái tên khác cũng được nhắc đến liên tục đó là Phêrô, người được đối diện và song hành với người phục sinh ấy. Kinh nghiệm gặp gỡ ấy đã biến một Phêrô bộc trực trở thành một tình yêu nồng cháy khi thốt lên: “Thầy biết mọi sự, Thầy biết tôi yêu Thầy.” Đồng thời kinh nghiệm ấy đã giúp Phêrô thực hành nơi chính mình, điều ông muốn truyền lại cho tất cả những ai muốn sống kinh nghiệm thiêng liêng này: “anh em hãy (chuẩn bị) sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” Hãy trả lời cho mọi người về khả năng và cú nhảy của anh em giữa thế giới hay chết mà anh em đang sống sang thế giới của biến cố phục sinh tại Giêrusalem.
Sau 40 ngày từ biến cố phục sinh tại Giêrusalem, một thực tại mới ra đời như chiếc cầu nối cho hai thế giới. Chất liệu của chiếc cầu này chính là những con người có kinh nghiệm gặp gỡ với con người phục sinh tại Giêrusalem. Con người phục sinh đó sẽ kết thúc sự hiện diện thể lý của mình trong lịch sử. Với tư cách là Đầu, con người ấy sống trong thế giới bên kia sự chết và Thân Thể của con người ấy, tức là Hội Thánh, là những người sống kinh nghiệm này được khai mở và ở lại thế giới mà Adam để lại. Biến cố phục sinh tại Giêrusalem có một sức nặng không gì có thể lay chuyển được. Trên sức nặng đó như nền tảng, một chiếc cầu được dựng nên, dù rất mong manh, rất mỏng dòn, rất đơn sơ; nhưng vẫn đủ sức nâng đỡ bất cứ ai và tất cả mọi người muốn bước qua thế giới thần linh vĩnh cửu từ thế giới lịch sử này.
Là thế hệ của hơn hai ngàn năm tính từ biến cố phục sinh tại Giêrusalem, nhờ ân sủng của sự phục sinh và đức tin nơi biến cố ấy, ta mong tên mình được ghi vào danh sách của những người gặp gỡ được con người phục sinh, để ta có thể kết thúc hành trình khi đến được thế giới thần linh đó ngay từ lúc này. Bất cứ ai, chỉ cần có ý chí lựa chọn đặt bước chân mình trên/trong chiếc cầu ấy, sẽ thấu hiểu được cuộc gặp gỡ với người phục sinh ấy là một cơ hội do chính ngài kiến tạo. Thập giá ngài như chiếc cầu và khi bắt đầu cất bước, ta đã được cứu thoát khỏi vực thẳm của sự tuyệt vọng. Khi song hành với người phục sinh, ta nhận ra đó chính là một sự chuyển hóa nội tâm khó diễn tả, vì nó vượt ra ngoài lý trí và dường như có sức nặng vượt lên mọi sự ta có thể nghĩ được. Rất khó để quan sát từng bước chân của ta trong cuộc song hành ấy. Ta muốn biết, muốn hiểu từng bước chân đã biến hóa nội tâm thế nào, nhưng không có gì có thể diễn tả ngoại trừ kinh nghiệm. Kinh nghiệm gặp gỡ và từng bước đi không diễn tả những gì xảy ra, nhưng nó có hấp lực cuốn hút ta vào lòng nó, để rồi từ những tế bào chết chóc và từng lớp lớp tư tưởng của khôn ngoan con người biến thành sự sống, trở nên thần linh vĩnh cửu. Ta không quan sát được, nhưng ta trở nên dấu chỉ của sự chuyển hóa và biến đổi. Dấu chỉ đó làm khuôn mặt đầy vết nhăn hằn theo năm tháng có nét đẹp của sức sống thần linh. Nó không làm những giọt nước mắt mất đi, nhưng dòng nước mắt đó tuôn ra nhiều hơn như suối lệ đậm đà của ân tình làm thỏa mãn cái hồn của sự gặp gỡ, và giải tỏa cơn khát của sự kết hợp đến ngay cả thân xác cũng run lên sung sướng. Nó làm cho con tim bỗng lớn dần lên mãi, lớn hơn cả những đau khổ thế giới này chất lại, vì lúc gặp gỡ con người phục sinh ấy, một tình yêu được gieo mầm và lớn theo với ân sủng phục sinh vĩnh cửu đó và tâm hồn bắt đầu đủ chỗ cho mọi người, mọi tạo vật, và cả vũ trụ nữa. Bước đi trên chiếc cầu nối hai đầu hiện hữu, ta tan biến dần theo sự đong đếm của thời gian, nhưng ta trở nên chính ta hơn bao giờ hết trong vĩnh cửu. Từng bước một, ta được chuyển hóa dù không được khắc ghi trên những công trình của công việc ta làm, nhưng nó đánh dấu từng ân sủng với sức mạnh lớn lao làm tất cả cát bụi trong ta bỗng tràn đầy sự linh thiêng bí ẩn.
Cuộc song hành sẽ có những điểm dừng và ngay tại điểm đó, con người phục sinh từ Giêrusalem sẽ đề nghị ta làm điều gì đó cho ngài và cho mọi người. Đề nghị đó sẽ rất riêng cho từng người, nhưng sẽ rất chung cho Thân Thể Huyền Nhiệm còn lại. Trong thời gian chờ cho đến ngày người phục sinh ấy trở lại trong vinh quang để Thân Thể Huyền Nhiệm được kết hợp trọn vẹn, tất cả mọi lời đề nghị sẽ có sức nặng tùy theo tình yêu mà ta có trong từng bước chân mình. Đôi khi ta nghĩ lời đề nghị quá sức của ta, nhưng tình yêu sẽ làm cho nó cân bằng. Với cuộc lữ hành trần thế, không ai dại tìm thêm sức nặng cho đôi chân đang cất bước; nên hầu như ai cũng có những trăn trở khi lời đề nghị được đặt trên con tim mình. Thỉnh thoảng khi ta sẵn lòng với lời đề nghị, người phục sinh đó nở nụ cười, dâng lời tạ ơn, bẻ sự sống phục sinh cho ta và cho mọi người, để ta nhận ra khuôn mặt hết sức rõ ràng của người đó, và ngay lúc đó, người phục sinh ấy biến đi để ta có cơ hội trở thành khuôn mặt đó trong Thân Thể Huyền Nhiệm. Có những lúc ta sợ lời đề nghị và lặng thinh cúi đầu, người phục sinh đó kiên nhẫn tiếp tục bước đi bên ta, đôi khi bồng bế ta để ta có thể bước vào cuộc gặp gỡ thẳm sâu hơn nữa, cho đến khi ta có thể bước đi và mở lòng với lời đề nghị.
Dù đã từng gặp gỡ hay chưa từng gặp gỡ con người phục sinh ấy, biến cố phục sinh ở Giêrusalem đánh mốc thời gian của sự đảo chiều. Cuộc lữ hành giờ đây sẽ tiến về vĩnh cửu chứ không phải cái chết như trước đây. Biến cố đã sinh ra một niềm vui đích thực và giúp cho thế giới này ngắm nhìn một thực tại bên kia cái chết, vì sẽ không còn gì có thể giới hạn sự sống. Biến cố nhập thể và sống giữa lịch sử 30 năm, cái chết trên thập giá và sự phục sinh, thăng thiên để khép lại sự hiện diện lịch sử, và trao tặng món quà Thánh Thần là chiếc cầu nối liền sự chết và sự sống, điều mà con người trần thế của ta chẳng bao giờ có thể nối liền. Điều ta có thể làm là chiêm ngưỡng con người phục sinh ấy, gặp gỡ con người phục sinh ấy, mở lòng với những đề nghị của con người phục sinh ấy, và phó thác tất cả vào bàn tay Thiên Chúa, Cha của người ấy, vì chỉ có “ngón tay” của ngài mới đủ sức và dư đầy khả năng, không những nối kết những mảnh đời tan vỡ đang chết của ta với ân tình của sự phục sinh, nhưng còn làm cho thế giới hay chết đón nhận ý nghĩa từ bên kia sự chết. Thời gian chờ đợi để trả lời cho một vài lời đề nghị của người phục sinh ấy có thể là tích tắc nhưng cũng có thể là vĩnh cửu. Trước những lời đề nghị trong mùa Phục Sinh, Người Lữ Hành nhận ra tình yêu mình không đủ để cân bằng sức nặng của lời đề nghị; nhưng vẫn luôn mở lòng để sự vĩnh cửu có thể trở thành tích tắc trong thời gian. Xin cầu nguyện thêm cho với.
Người Lữ Hành
Chuẩn bị lễ Thăng Thiên và chút suy tư về một vài đề nghị trong đời.