
“Bấy giờ, Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói.” (Mt 4: 1-2)
Hai câu ngắn ngủi bắt đầu chương thứ tư của Tin Mừng Matthew được gắn liền với Mùa Chay. Theo truyền thống, đây là một mùa gồm sáu tuần (40 ngày) được Kitô giáo dành riêng để cầu nguyện, ăn năn sám hối, và xưng thú tội lỗi cùng làm việc đền tội một cách công khai. Trong tường thuật này, câu chuyện của Giêsu và mùa Chay dường như gợi lên hình ảnh của một cuộc hành hương. Kitô hữu đi hành hương với mục đích gì? Hành hương để có thể trực tiếp gặp Thiên Chúa qua những bước chân đến một nơi trong Kinh Thánh, hoặc liên hệ với những vị thánh. Nếu câu chuyện ma quỷ cám dỗ Giêsu trong hoang địa gắn liền với mùa Chay, thì mùa Chay chính là thời gian thích hợp nhất để gẫm về hình ảnh của cuộc hành hương, về người hành hương, về những bài học về đức tin và căn tính của Kitô hữu. Đó là cuộc hành hương nội tâm, mà trên hành trình tâm linh ấy, ta bỏ lại phía sau những tiện nghi, chấp nhận thiếu thốn, đối mặt với những khó khăn và tuân thủ nghiêm ngặt những kỷ luật.
Cuộc hành hương là một câu chuyện cụ thể, không phải một triết lý
Đời sống Kitô hữu hữu được diễn tả như đời của người môn đệ bước theo thầy mình là Giêsu. Tự nó thích hợp với một cuộc hành hương và ta sẽ hiểu được người hành hương bằng cách lắng nghe câu chuyện của họ một cách cụ thể, hơn là một triết lý. Câu chuyện người môn đệ dọc theo dòng thời gian có mục đích rõ ràng là trở nên giống thầy, nghĩa là hướng tới sự thánh thiện, để tận hưởng mối ân tình thầy-trò, và để tôn vinh Thiên Chúa. Con đường hành hương đó luôn có những thử thách, những bất tiện, nhiều kỷ luật, tình bạn ra đời với những khoảnh khắc an bình trong cô tịch, hay những xung đột trong tiếp xúc, và cả những khám phá làm thỏa mãn nội tâm của một hiện hữu trong kinh nghiệm tròn đầy.
Từng người lữ hành đều có câu chuyện của riêng mình. Mỗi một câu chuyện đều có độc đáo riêng và tất cả đều có nhiều tương đồng với câu chuyện của Giêsu. Nếu ta hiểu trên bình diện Kitô giáo, câu chuyện Giêsu bị cám dỗ như một “cuộc hành hương của Thiên Chúa.” Ngài đến và bước vào vũ trụ trong tư cách một người Do thái, sống giữa nhân loại trong một dân tộc và nền văn hóa cụ thể. Cuộc sống Ngài không dễ dàng và rồi Ngài bị giết và sống lại. Biến cố đó trở thành biến cố cứu độ. Câu chuyện của Giêsu chính là câu chuyện cứu độ và là trọng tâm của một câu chuyện vĩ đại hơn nhiều trải dài từ tạo dựng cho đến khi thời gian chấm dứt. Đây là câu chuyện của Thiên Chúa với mục đích rõ ràng và có nhiều thứ tự lớp lang.
Khi đặt câu chuyện của ta vào trong câu chuyện của Giêsu, ta học được gì? Ta thấy Giêsu đối mặt với những thử thách của sự dữ. Ta thấy Ngài vật lộn và phản ứng với những thử thách đó theo khôn ngoan của việc lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Là Kitô hữu, ta không vật lộn và phản ứng với những thử thách của cuộc sống bằng cách có những kiến thức cơ bản, những triết lý trừu tượng, hay những khung kỷ luật theo ý thức hệ; nhưng ta bắt chước Giêsu là bám chặt vào Thiên Chúa là Cha. Đây là một kinh nghiệm của việc thực hành đức tin; và chính kinh nghiệm cá nhân trong việc sống đạo đào tạo nên con người ta và nuôi dưỡng đức tin ta.
Chính cuộc hành hương cụ thể và những kinh nghiệm của người lữ hành giúp Kitô hữu hữu định hình đức tin của mình và giúp Kitô giáo không biến thành những kiến thức thông thường, những quy tắc phải giữ, và tệ hơn là thành một triết lý. Khi quan sát cuộc sống tại thời điểm này, ta thấy sai lầm này rất rõ. Chính những việc thực hành mùa Chay như chiếc mỏ neo giữ ta không rời xa những gì cốt lõi của Kitô giáo đó là sự kết hợp mật thiết và sống lệ thuộc hoàn toàn vào Đấng Tạo Hóa là Cha chúng ta. Chính bằng cách cầu nguyện nhiều giờ hơn, ta không kiến thức hóa Kitô giáo. Qua việc hãm mình ép xác cụ thể hơn, ta hiểu rõ mình hơn để không pháp luật hóa Kitô giáo. Với việc bác ái ta không biến sự quảng đại thành những bổn phận phải làm, nhưng là những ơn lành giúp ta trở về phiên bản gốc của mình khi được tạo dựng.
Cuộc hành hương cần một thân xác
Khi đặt từng bước chân trên đường lữ hành, cuộc hành hương nhắc nhở ta rằng: thân thể, các giác quan, và những vị trí địa lý đều quan trọng trong hành trình nội tâm ta. Hành hương đích thực không chỉ liên quan đến những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, đến những chuỗi sự kiện mà người hành hương tham dự; nhưng còn hệ tại ở những trải nghiệm cụ thể trên cuộc lữ hành về nơi chốn, về văn hóa, về ẩm thực, về thế giới tự nhiên nơi từng bước chân đi qua.
Khi sống mùa Chay theo cách này, ta thấy cuộc hành hương nhắc nhở Kitô hữu rằng: thể xác, các giác quan, vị trí và nơi sống của ta…mọi yếu tố, đều quan trọng không thể thay thế trong hành trình tâm linh. Hơn nữa, Kitô giáo càng không phải là lý do coi thế giới vật chất là thứ yếu vì con người là những linh hồn thể hiện sự sống động qua thân xác và vật chất xung quanh. Dù khoa học có tiến bộ đến độ tải những ý nghĩ cùng kiến thức lên máy tính qua công nghệ AI để thay thế thần kinh và bộ óc con người, dù khoa học có thể cấy những mạch điện tử vào cơ thể con người để điều khiển tư tưởng trừu tượng đi nữa, dù y khoa tiên tiến có định hình sức khỏe cuộc sống bằng những quyết định hợp với những suy luận tân thời của thuyết tiến hóa mới dành cho tương lai con người (Homo Sapiens và Homo Deus), việc sống mùa Chay với những cử hành Bí tích và Cuộc Khổ Nạn nhắc nhở ta về một sự thật là: nhân cách của con người không chỉ thiêng liêng và duy linh, nhưng thân xác luôn có một phần quan trọng không gì có thể thay thế nơi nhân cách ấy.
Những cuộc hành hương theo truyền thống gợi hứng cho người hành hương và giúp họ khám phá ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống của họ; vì nó nhắc họ về một Thiên Chúa nhập thể làm người, công việc của Ngài có thể kiểm chứng được giữa thế giới và trong dòng lịch sử. Thế giới vật chất này như món quà Chúa ban tặng, nhưng ta không nên dừng lại ở đó và yêu mến nó cách thái quá đến độ chiếm đoạt nó như thể nó là cứu cánh của mình. Thực hành mùa Chay giúp ta vượt lên cám dỗ biến vật chất thành lương thực hằng ngày, nhưng giúp ta hướng ta về một nhu cầu cao hơn nhiều. Đó chính là Lời Chúa, là chính Chúa; vì khi bước chân ta tiếp tục bước, ta để lại phía sau tất cả mọi vật chất như hành lý cồng kềnh. Chính thể xác ta là yếu tố đầu tiên kinh nghiệm được sự nhẹ nhàng khi ta hướng đến những gì linh thánh.
Cuộc hành hương sẽ thay đổi ta
Hành hương luôn là một hành trình làm ta thay đổi. Mùa Chay được biết đến như là “thời thuận tiện” để thay đổi, để làm hiện hữu mình có chỗ cho ơn cứu độ. Thay đổi chính là dấu ấn quan trọng trong đời sống của Kitô hữu. Thiên Chúa đã yêu ta đến độ Ngài để ta “bình thường” như trong hiện tại. Thiên Chúa thánh hóa ta từ từ khi ta quyết định thay đổi. Mùa Chay nhắc ta về sự thay đổi này. Các thực hành mùa Chay nhắc ta rèn luyện mình. Chúng không chỉ nhằm mục đích chuyển sự chú ý của ta về sự hiện diện của Thiên Chúa trong ngày sống của ta; nhưng còn giúp ta có thói quen tốt lành là tập trung vào chính Chúa, đặt Ngài làm trung tâm của hiện hữu ta. Cách đào luyện tốt nhất để ta sống biết ơn chính là kinh nghiệm quay về sau mỗi lần sa ngã. Khi ấy, ta trải nghiệm sự tha thứ ôm lấy ta và biến ta thành con người mới. Một niềm an ủi lớn lao và là động cơ mạnh mẽ cho sự thay đổi chính là kinh nghiệm gặp gỡ một Đấng giống ta trong mọi sự ngay cả trong những cơn cám dỗ; nhưng Ngài không phạm tội.
Cuộc hành hương không bao giờ cô đơn và trái đất này không phải là nơi cư ngụ vĩnh viễn
Cuộc hành hương quá nguy hiểm để bước đi một mình. Đời sống đạo đích thực của Kitô hữu cũng vậy. Từng người hành hương luôn cần sự bảo vệ và giúp đỡ của bạn hành hương khác. Thực hành mùa Chay đúng nghĩa là sống sự hoán cải công khai cùng nhau và cùng nhau tuyên xưng về đích đến của cuộc hành hương đi về vĩnh cửu chính là Phục Sinh. Tự bản chất, mùa Chay gắn ta liền với Hội Thánh. Câu chuyện cứu độ của Giêsu không bao giờ vắng bóng những học trò. Giêsu cầu nguyện nhiều trong cô tịch của sớm mai hay đêm vắng, nhưng Ngài luôn ở giữa học trò, đặc biệt hơn là bộ ba thân cận, thậm chí Ngài cần họ trong những giây phút khó nhất trong câu chuyện cứu độ. Những cám dỗ và thói quen tội lỗi sẽ rất riêng cho từng người, nhưng việc xức tro mùa Chay giúp ta nhận ra dấu hiệu hữu hình chung của tội lỗi, của sự giới hạn phận người. Chỉ trong mùa Chay, mới có những cử hành phụng vụ đặc biệt mang tính cộng đồng. Những nghi thức dành cho dự tòng và những sám hối đích thực của mùa Chay thánh, lý tưởng là được cử hành bởi giám mục; bởi vì sự ăn năn sám hối và nhu cầu về yêu thương chỉ được thể hiện hoàn hảo trong Giêsu và thân thể Ngài.
Người hành hương chính là người “tạm trú” và cuộc hành hương đến nơi nào đó cũng chỉ là nơi “trú ngụ tạm thời.” Hành hương buộc ta không gắn bó với bất cứ nơi nào. Kinh nghiệm vô gia cư của người hành hương giúp ta nhận ra rằng: nơi ta ngả lưng nghỉ ngơi không phải là nhà thật. Giữa thế giới sa ngã này, ngay cả trong những ngày tốt đẹp nhất của hành hương, ta vẫn còn xa và bị chia cách khỏi Thiên Chúa. Kinh nghiệm này hướng ta đến một đích điểm đặc biệt. Thực hành trở về trong mùa Chay phơi bày một sự thật về khao khát thẳm sâu của con người mà thế giới hiện tại cũng như những gì thuộc về nó không thể ban tặng cho ta, vì ta thuộc về một thế giới (hoàn toàn) khác.
Mùa Chay nhắc nhở thân phận ta là một người hành hương đang trở về nhà mình. Khi vượt lên những giới hạn của thế giới này, ta biết ta đang yêu mến một thực tại lớn hơn nhiều, một điều hết sức quan trọng, một trời mới đất mới, một tạo dựng mới, một “ngôi nhà mới” không cần ánh sáng trần thế, nhưng chính Chúa là ánh sáng cho nó. Trước cám dỗ của Satan: “ta sẽ ban cho người tất cả những điều này: địa vị, quyền lực và dục vọng”, ta cần đáp trả như Giêsu. Hãm mình ép xác là một cử hành của mùa Chay mà nơi đó, ta tập tách mình ra khỏi những tiện nghi quen thuộc của địa vị, của quyền lực, của dục vọng. Như người hành hương tách mình ra khỏi những gì làm họ dậm chân tại chỗ. Cử hành mùa Chay là một thực tại tương tự. Nó giúp ta bước vào mầu nhiệm đau khổ và cái chết của Giêsu và bước tiếp trong sự phục sinh của Giêsu. Trong Giêsu phục sinh, ta sống chan hòa trong ngôi nhà mới đầy ân tình tứ hải giai huynh đệ. Trong Giêsu phục sinh là ngôi nhà mới vĩnh cửu, ta không còn là Do thái hay Hy lạp, là nô lệ hay tự do, là dân chủ hay cộng hòa, là cộng sản hay tư bản, là dân quê hay người văn minh. Trong ngôi nhà thần linh, tất cả đều có cùng nhân phẩm của con Thiên Chúa với dòng máu phục sinh. Cuộc hành hương giúp người lữ hành có những trải nghiệm lớn hơn thế giới nhỏ bé của mình. Tương tự như thế, nếu ta sống mùa Chay như một cuộc hành hương nội tâm, thì những cử hành của mùa Chay là những kỷ luật cần thiết như những bước đi dẫn và về nhà mình.
Người Lữ Hành
Mùa Chay 2026