Làm người trong thời đại trí tuệ nhân tạo: một Thách đố của giới trẻ

Chia sẻ đến mọi người cùng đọc

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đặt người trẻ trước một nghịch lý. Máy móc ngày càng có khả năng thực hiện những công việc từng được xem là biểu hiện đặc trưng của trí tuệ con người: viết, dịch thuật, lập trình, sáng tạo hình ảnh, phân tích dữ liệu, trò chuyện và đưa ra lời khuyên. Chính lúc máy móc trở nên ‘giống con người’ hơn, câu hỏi về căn tính con người lại trở nên cấp thiết: điều gì làm cho một người thực sự là người? Dựa trên Thông điệp Magnifica Humanitas của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, bài viết tiếp cận vấn đề này qua năm câu hỏi gần gũi với kinh nghiệm của người trẻ: Tôi là ai khi máy móc ngày càng giống con người? Khi nào tôi không nên dùng AI? Tôi đang sử dụng công nghệ hay công nghệ đang sử dụng tôi? Tương lai nghề nghiệp của tôi còn chỗ đứng nào? Và tôi đang góp phần xây dựng Babel hay Giêrusalem? Qua đối thoại với Kinh Thánh, Công đồng Vaticanô II, thánh Âugustinô, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội và một số nghiên cứu đương đại về công nghệ, giáo dục, truyền thông và lao động, bài viết cho thấy thách đố sâu xa của AI nằm ở cách con người hiểu chính mình. Tiến bộ kỹ thuật trở thành tiến bộ đích thực khi nó bảo vệ phẩm giá, nuôi dưỡng tự do, phục vụ sự thật, củng cố tương quan và mở ra khả năng yêu thương, trách nhiệm và hiệp thông.

 

Khi máy móc buộc con người phải hỏi lại “Tôi là ai?”

Một sinh viên mở máy tính và yêu cầu trí tuệ nhân tạo viết một bài luận. Vài giây sau, một văn bản dài hiện ra. Một người trẻ khác đưa cho AI một đoạn mã lập trình đang bị lỗi; hệ thống tìm ra vấn đề và đề nghị cách sửa. Một người đang buồn kể câu chuyện của mình cho chatbot và nhận được những lời an ủi khá tinh tế. Một nhà thiết kế nhập vài dòng mô tả rồi nhận lại một hình ảnh mà trước đây phải mất nhiều giờ mới tạo được.

Những kinh nghiệm ấy đang trở thành bình thường. Vì thế, câu hỏi gây bối rối nhất về AI có lẽ không còn là: máy móc sẽ làm được những gì? Câu hỏi sâu hơn là: nếu máy móc có thể thực hiện ngày càng nhiều hoạt động mà chúng ta từng xem là biểu hiện của trí thông minh, thì điều gì làm tôi thực sự là một con người?

Đó cũng là cánh cửa thích hợp để bước vào Thông điệp Magnifica Humanitas của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2026 về việc bảo vệ nhân vị trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Văn kiện mở đầu bằng một lựa chọn mang tính biểu tượng: nhân loại có thể xây dựng một Babel mới, hoặc xây dựng một thành phố nơi Thiên Chúa và con người cùng cư ngụ. Đức Giáo hoàng đặt toàn bộ vấn đề kỹ thuật trong câu hỏi lớn hơn về phẩm giá, công lý, tình huynh đệ và tương lai của con người.[1]

Điều đáng chú ý là Magnifica Humanitas không khởi đi từ nỗi sợ máy móc. Kỹ thuật được nhìn nhận như thành quả của trí thông minh và tự do con người, một khả năng có thể góp phần chữa bệnh, giáo dục, kết nối và cải thiện đời sống. Vấn đề xuất hiện khi sức mạnh kỹ thuật phát triển nhanh hơn khả năng luân lý của con người, khi hiệu quả trở thành thước đo tối hậu, hoặc khi quyền lực công nghệ tập trung trong những cơ cấu có khả năng định hướng hành vi của hàng triệu người.

Vì thế, tiêu chuẩn quan trọng nhất của Thông điệp có thể diễn tả bằng một câu hỏi rất giản dị: AI có làm cho cuộc sống trên trái đất trở nên “nhân bản hơn” và xứng đáng với con người hơn không? Đức Lêô XIV lấy lại câu hỏi này từ thánh Gioan Phaolô II và dùng nó như một tiêu chuẩn để phân định tiến bộ.[2]

Đối với người trẻ, vấn đề ấy có thể được triển khai thành một hành trình gồm năm câu hỏi:

TÔI LÀ AI? → TÔI SUY NGHĨ THẾ NÀO? → TÔI CÓ THỰC SỰ TỰ DO KHÔNG? → TÔI SẼ LÀM GÌ VỚI CUỘC ĐỜI MÌNH? → TÔI MUỐN XÂY DỰNG THẾ GIỚI NÀO?

 

I. “AI rất thông minh. Nhưng nó có thể yêu không?” 
Tôi là ai khi máy móc ngày càng giống con người?

1. Khi trí thông minh không còn là đặc quyền của con người

Trong nhiều thế kỷ, con người thường tự phân biệt mình với các sinh vật khác bằng khả năng suy nghĩ. Ngày nay, AI khiến cách phân biệt ấy trở nên phức tạp hơn.

Một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể xử lý một lượng dữ liệu mà không một con người nào có thể đọc hết trong đời. Nó có thể chơi cờ, nhận diện hình ảnh, dịch ngôn ngữ, dự đoán cấu trúc protein, lập trình, viết văn và tạo nhạc. Nếu trí thông minh được định nghĩa chủ yếu bằng tốc độ xử lý thông tin và khả năng hoàn thành nhiệm vụ, máy móc có thể vượt con người trong rất nhiều lĩnh vực.

Magnifica Humanitas vì thế cảnh báo rằng cần tránh đồng nhất trí tuệ nhân tạo với trí tuệ con người. AI mô phỏng được một số hoạt động của trí tuệ, nhưng phương thức hoạt động của nó vẫn gắn với xử lý dữ liệu. Một hệ thống AI không có kinh nghiệm sống theo nghĩa con người: nó không có thân xác để cảm nhận đau đớn, không trải qua tuổi thơ, không mang ký ức của một gia đình, không trưởng thành qua thất bại, không biết thế nào là giữ lời hứa, xin tha thứ hay tha thứ cho người khác. Nó có thể tạo ra những câu nói về tình yêu mà không hề yêu; có thể diễn tả nỗi đau mà không hề đau; có thể tạo ra ngôn ngữ cảm thông mà không trải nghiệm lòng thương xót.[3]

Điều ấy không làm giảm giá trị của AI. Nó giúp chúng ta xác định đúng bản chất của công cụ và đồng thời khám phá lại chiều sâu của trí tuệ con người.

Tài liệu Antiqua et nova của Bộ Giáo lý Đức tin và Bộ Văn hóa và Giáo dục đã nhấn mạnh rằng trí tuệ con người thuộc về toàn thể nhân vị: thân xác, lý trí, ý chí, cảm xúc, tương quan, lịch sử và sự mở ra với chân lý. Con người học bằng thân xác và qua những cuộc gặp gỡ. Một cái ôm hòa giải, kinh nghiệm chăm sóc người bệnh, một lần được tha thứ hay một buổi chiều đứng trước vẻ đẹp thiên nhiên có thể đem lại một sự hiểu biết mà việc xử lý dữ liệu không thể thay thế.[4]

Bởi thế, câu hỏi “AI có thông minh bằng con người không?” có thể dẫn chúng ta đi sai hướng nếu “thông minh” chỉ còn nghĩa là giải quyết bài toán nhanh hơn.

Câu hỏi quan trọng hơn là: Con người được tạo dựng để làm gì?

2. Giá trị của tôi có nằm trong những gì tôi làm được?

Đây là nơi vấn đề AI chạm đến người trẻ. Một học sinh có thể tự hỏi: nếu AI viết tốt hơn tôi, tại sao tôi phải học viết? Một sinh viên ngành ngôn ngữ có thể lo lắng: nếu máy dịch ngày càng tốt, tương lai của tôi ở đâu? Một lập trình viên trẻ có thể nghĩ: nếu AI có thể viết mã nhanh hơn tôi, giá trị nghề nghiệp của tôi còn lại bao nhiêu?

Ẩn sau những câu hỏi ấy là một giả định rất phổ biến: giá trị của tôi tùy thuộc vào khả năng mà tôi có thể cung cấp cho xã hội.

Nếu giả định này đúng, người giỏi hơn sẽ có giá trị hơn người kém; người khỏe mạnh sẽ giá trị hơn người khuyết tật; người sản xuất nhiều sẽ đáng giá hơn người không còn khả năng lao động. Khi máy móc vượt con người trong một số khả năng, con người sẽ cảm thấy mình bị mất giá.

Nhân học Kitô giáo đi theo con đường khác.

Con người có phẩm giá vì được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài: imago Dei. Phẩm giá ấy có trước thành tích, nghề nghiệp, trí thông minh, sức khỏe và địa vị xã hội. Antiqua et nova diễn tả điều này rất rõ: phẩm giá của một người không phụ thuộc vào năng lực nhận thức, thành tựu kỹ thuật hay thành công cá nhân.[5]

Một em bé chưa biết nói vẫn có phẩm giá trọn vẹn. Một người mắc chứng mất trí nhớ vẫn là một nhân vị. Một người thất nghiệp vẫn có giá trị. Một người khuyết tật trí tuệ không kém nhân bản hơn một thiên tài toán học.

Và vì thế, một máy tính có khả năng xử lý dữ liệu vượt con người không khiến phẩm giá con người giảm xuống.

Đây là một khẳng định bảo đảm cho người trẻ. Xã hội cạnh tranh thường dạy họ rằng họ phải chứng minh giá trị của mình bằng điểm số, bằng đại học, bằng mức lương, bằng số người theo dõi, bằng hình ảnh cá nhân hay năng suất. Tin Mừng lại bắt đầu bằng một sự thật khác: trước khi làm được điều gì, tôi đã là một người được Thiên Chúa yêu thương.

3. Ngôi Lời nhập thể: Thiên Chúa trả lời câu hỏi “con người là gì?”

Công đồng Vaticanô II đưa ra một trong những nguyên tắc nhân học quan trọng nhất của Kitô giáo: “Mầu nhiệm con người chỉ thực sự sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể.”[6]

Câu này trở thành chìa khóa thần học của Magnifica Humanitas. Ngay từ số đầu tiên, Đức Lêô XIV đặt việc bảo vệ nhân tính dưới ánh sáng của Đức Giê-su Kitô, Ngôi Lời đã làm người. Kitô giáo không tìm con người lý tưởng trong một sinh vật đã thoát khỏi thân xác, giới hạn, cảm xúc và sự lệ thuộc. Kitô giáo nhìn vào Đức Giê-su. Ngài có một thân xác. Ngài biết đói, khát và mệt. Ngài có bạn hữu. Ngài khóc trước mộ Lazarô. Ngài chạnh lòng thương trước đau khổ của người khác. Ngài trải qua cô đơn. Ngài yêu thương. Ngài đau khổ. Ngài trao ban chính mình.

Điều này mang một ý nghĩa đặc biệt trước những giấc mơ hậu nhân loại muốn xem sự mong manh của thân phận con người như một khuyết điểm kỹ thuật cần khắc phục. Sự hữu hạn không nhất thiết là kẻ thù của phẩm giá. Việc cần đến người khác không làm chúng ta kém người. Khả năng bị tổn thương cũng chính là điều khiến chúng ta có thể đón nhận sự chăm sóc. Có thân xác khiến ta có thể ôm một người khác, lao động bằng đôi tay, quỳ xuống cầu nguyện và hiện diện bên giường một người bệnh. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không cứu con người bằng cách xóa bỏ nhân tính. Ngài đi vào chính nhân tính ấy.

4. Thánh Âugustinô: trái tim con người muốn nhiều hơn dữ liệu

Có một câu của thánh Âugustinô mà Magnifica Humanitas lấy lại rất sớm: Fecisti nos ad te et inquietum est cor nostrum donec requiescat in te. Tạm dịch: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa.”[7]

“Trái tim khắc khoải” ấy giải thích một điều mà công nghệ khó giải quyết: con người luôn muốn nhiều hơn những gì mình đang có.

Nhiều dữ liệu hơn chưa chắc làm ta khôn ngoan hơn. Nhiều kết nối hơn chưa chắc làm ta bớt cô đơn. Nhiều giải trí hơn chưa chắc đem lại niềm vui. Nhiều lựa chọn hơn chưa chắc làm ta tự do hơn. Thánh Âugustinô không coi khát vọng vô hạn ấy là lỗi của hệ thống con người. Nó cho thấy con người được tạo dựng hướng về một Thiện Hảo vượt quá mọi đối tượng hữu hạn. AI có thể giúp chúng ta đạt được nhiều thứ nhanh hơn. Nhưng nó không thể trả lời thay chúng ta câu hỏi: những điều tôi đang tìm kiếm có thực sự làm cho trái tim tôi được sống không?

Đó là lý do Đức Phanxicô trong Dilexit nos đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “trở về với trái tim” giữa một nền văn hóa vội vã, tiêu thụ và bị công nghệ bao vây. Trái tim ở đây không chỉ là cảm xúc. Nó là trung tâm sâu xa nơi tư tưởng, ý muốn, tình yêu và những lựa chọn của đời người gặp nhau.[8]

Vì vậy, có lẽ câu hỏi tốt nhất để mở đầu giáo dục người trẻ về AI không phải là “Bạn biết sử dụng công cụ nào?”, nhưng là: Bạn muốn trở thành người như thế nào?

II. “Khi nào tôi không nên dùng AI?” 
Đừng để AI lấy mất câu hỏi của bạn

1. Khi câu trả lời trở nên quá dễ

Một trong những đoạn đặc biệt đáng suy nghĩ của Magnifica Humanitas nằm ở số 140: giáo dục về việc sử dụng AI cũng có nghĩa là giáo dục con người biết khi nào và vì mục đích gì không nên sử dụng nó.[9]

Đây là một thay đổi quan trọng. Trong những năm đầu của giáo dục kỹ thuật số, người ta thường hỏi: làm thế nào để học sinh biết sử dụng công nghệ? Với AI tạo sinh, câu hỏi thứ hai trở nên cần thiết: khi nào sử dụng công nghệ sẽ làm suy yếu chính khả năng mà việc học muốn phát triển? Giả sử một sinh viên phải viết bài về một tác phẩm văn học. Người ấy có thể yêu cầu AI tóm tắt tác phẩm, đề nghị cấu trúc, viết mở bài và thậm chí hoàn thành toàn bộ bài luận. Kết quả có thể rất tốt. Nhưng mục đích của bài tập là gì? Nếu mục đích chỉ là tạo ra mười trang văn bản, AI đã hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng nếu mục đích là giúp sinh viên tập đọc, tập suy nghĩ, tập đặt vấn đề, cân nhắc bằng chứng và diễn đạt tư tưởng của chính mình, việc giao toàn bộ quá trình cho AI khiến bài tập mất ý nghĩa. Một sản phẩm tốt chưa chắc đồng nghĩa với một người học đã trưởng thành.

2. Có thông tin khác với hiểu

Nghiên cứu tâm lý học đã sử dụng khái niệm cognitive offloading – có thể tạm dịch là “chuyển gánh nặng nhận thức ra bên ngoài” – để mô tả việc con người dùng các công cụ bên ngoài nhằm giảm lượng công việc trí óc phải tự thực hiện. Ghi một số điện thoại thay vì nhớ, dùng bản đồ GPS hay đặt lịch nhắc việc đều là những hình thức như vậy.[10]

Bản thân việc này không xấu. Văn minh con người phát triển nhờ khả năng dùng công cụ. Vấn đề nằm ở việc ta chuyển ra ngoài điều gì.

Nghiên cứu nổi tiếng của Betsy Sparrow, Jenny Liu và Daniel Wegner cho thấy khi con người tin rằng thông tin sẽ luôn có thể truy cập bằng máy tính, họ có xu hướng ghi nhớ nơi tìm thông tin tốt hơn bản thân nội dung thông tin.[11]

AI tạo sinh đẩy hiện tượng này sang một cấp độ mới. Chúng ta có thể giao cho máy tìm thông tin, tóm tắt, so sánh, lập luận, viết, sửa, và thậm chí đặt câu hỏi thay mình. Một lần nữa, cần tránh kết luận cực đoan rằng AI tất yếu làm con người “ngu đi”. Khoa học chưa cho phép nói như vậy. Công cụ có thể giải phóng năng lực trí tuệ để con người dành thời gian cho những công việc cao hơn. Nhưng câu hỏi giáo dục vẫn còn nguyên: nếu mọi bước khó khăn đều được loại bỏ, người học sẽ trưởng thành bằng cách nào? Một vận động viên không trở nên mạnh hơn vì có một chiếc máy nâng tạ thay mình. Tương tự, trí tuệ cần một mức độ cố gắng để hình thành khả năng đọc, phân tích, kiên nhẫn và phán đoán.

3. Một câu hỏi tốt đôi khi quan trọng hơn một câu trả lời nhanh

Magnifica Humanitas cảnh báo về một nền văn hóa của tính tức thời và kích thích liên tục. Văn kiện nhận thấy sự dễ dàng của các câu trả lời có thể làm suy yếu ước muốn đặt câu hỏi.

Điều này chạm đến bản chất của giáo dục. Người thực sự học không phải là người có câu trả lời cho mọi thứ. Nhưng là người ấy biết mình chưa hiểu điều gì. Triết học bắt đầu bằng kinh ngạc. Nghiên cứu bắt đầu bằng vấn đề. Đức tin trưởng thành cũng lớn lên qua câu hỏi. Thánh Âugustinô đã dành cả cuộc đời để hỏi: Thiên Chúa là ai? Tôi là ai? Ký ức là gì? Thời gian là gì? Tại sao con người muốn hạnh phúc mà lại lựa chọn điều khiến mình khổ?

Nếu có một công cụ trả lời mọi câu hỏi trước khi con người kịp ở lại với câu hỏi, một nguy cơ xuất hiện: chúng ta có thể sở hữu câu trả lời mà chưa từng thực sự hiểu vấn đề. Vì vậy, câu “đừng để AI lấy mất câu hỏi của bạn” diễn tả khá chính xác một nguyên tắc giáo dục. AI có thể là người trợ giúp tốt trong việc tìm kiếm. Nó không nên trở thành lý do để ngừng tìm kiếm.

4. AI, sự thật và khả năng kiểm chứng

Một khó khăn khác xuất hiện khi hệ thống AI tạo ra câu trả lời có văn phong tự tin nhưng nội dung có thể sai. Magnifica Humanitas đặt việc bảo vệ sự thật trong bối cảnh rộng hơn của truyền thông kỹ thuật số. Nội dung trên các nền tảng không chỉ cung cấp dữ kiện; nó góp phần tạo nên trí tưởng tượng tập thể, định hình điều con người thấy đáng mong muốn và ảnh hưởng đến lựa chọn hằng ngày, đặc biệt nơi người trẻ.[12]

Deepfake làm cho vấn đề nghiêm trọng hơn. Một hình ảnh từng được xem như bằng chứng có thể được tạo hoàn toàn bằng máy. Một giọng nói có thể bị giả mạo. Một video về một người nổi tiếng có thể chưa từng xảy ra. Trong hoàn cảnh ấy, khả năng phân định nguồn trở thành một đức tính trí tuệ. UNESCO, trong hướng dẫn về AI tạo sinh trong giáo dục, cũng đề nghị một cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, nhấn mạnh quyền riêng tư, năng lực số, sự phù hợp với độ tuổi và khả năng đánh giá có phê phán các công cụ.[13]

Giáo dục người trẻ vì thế phải dạy ít nhất ba thái độ: đừng tin một điều chỉ vì nó được trình bày trôi chảy; hãy kiểm tra nguồn; và hãy phân biệt điều mình biết với điều mình chỉ nghe nói. Đó là một hình thức khiêm nhường trí tuệ.

5. Học lúc nào nên tắt AI

Một nền giáo dục tốt về AI vì thế không thể chỉ dạy kỹ năng viết prompt. Nó còn phải tạo ra những không gian trong đó người trẻ làm những việc mà AI không làm thay: đọc một cuốn sách từ đầu đến cuối; ngồi lâu với một vấn đề khó; tranh luận với một người bất đồng; viết một trang bằng chính tư tưởng của mình; thinh lặng; cầu nguyện; đọc và suy niệm Lời Chúa; để một câu hỏi trưởng thành trong lòng trước khi tìm câu trả lời. Trong ngôn ngữ Kitô giáo, có thể gọi một phần của thái độ ấy là một hình thức khổ chế kỹ thuật số: chủ động giới hạn một công cụ tốt để giữ cho một điều quý hơn được tự do.

III. “Tôi đang sử dụng điện thoại, hay điện thoại đang sử dụng tôi?” 
Tự do nội tâm trước thuật toán và nền kinh tế chú ý

1. Miễn phí nhưng chúng ta trả bằng sự chú ý

Rất nhiều dịch vụ kỹ thuật số được cung cấp miễn phí. Nhưng một doanh nghiệp vẫn cần doanh thu. Trong nhiều mô hình nền tảng, điều có giá trị kinh tế chính là thời gian, sự chú ý, dữ liệu và hành vi của người sử dụng. Magnifica Humanitas gọi thẳng tên vấn đề: nền kinh tế kỹ thuật số của sự chú ý. Đức Lêô XIV lưu ý rằng nhiều nền tảng được thiết kế để giữ ánh mắt và thời gian của người dùng, khai thác những điểm dễ bị tổn thương và làm suy yếu tự do nội tâm.[14]

Điều này giúp chúng ta đặt lại câu hỏi về tự do. Thông thường ta nghĩ mình tự do vì không ai buộc mình mở điện thoại. Nhưng nếu một hệ thống nghiên cứu hành vi của tôi, học điều gì khiến tôi dừng lại lâu hơn, thử nghiệm loại thông báo nào khiến tôi quay trở lại, rồi liên tục điều chỉnh nội dung để giữ tôi trên nền tảng, mối quan hệ giữa tôi với công nghệ trở nên phức tạp hơn một lựa chọn hoàn toàn tự phát.

2. Tự do là nhiều hơn khả năng bấm “đồng ý”

Các nghiên cứu về thao túng trực tuyến đã chỉ ra sự khác nhau giữa thuyết phục và thao túng. Daniel Susser, Beate Roessler và Helen Nissenbaum đặc biệt quan tâm đến việc công nghệ có thể tác động lên con người theo những cách khó nhận biết, dựa trên dữ liệu chi tiết về sở thích và hành vi.[15]

Shoshana Zuboff sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản giám sát” để mô tả một mô hình kinh tế trong đó kinh nghiệm sống của con người trở thành nguyên liệu cho việc thu thập dữ liệu, dự đoán và tác động lên hành vi.[16]

Có thể tranh luận về phạm vi của khái niệm này, nhưng câu hỏi mà nó đặt ra rất đáng chú ý: nếu người khác biết ngày càng nhiều về những gì khiến tôi phản ứng, họ có khả năng định hướng lựa chọn của tôi đến mức nào?

Đó cũng là câu hỏi luân lý. Theo truyền thống Kitô giáo, tự do không chỉ là khả năng lựa chọn giữa A và B. Tự do trưởng thành là khả năng hướng đời mình về điều thiện. Một người có thể tự do bấm vào một video và vẫn đang mất dần khả năng rời khỏi màn hình. Một người có thể tự do mua hàng và vẫn đang bị một hệ thống quảng cáo khai thác sự bất an về hình ảnh bản thân. Một người có thể tự do lướt mạng xã hội, nhưng sau hai giờ lại nhận ra mình đã không làm điều mình thực sự muốn làm. Tự do bên ngoài vẫn còn, trong khi tự do nội tâm đã bị thu hẹp.

3. Cần thận trọng với những lời giải thích quá đơn giản

Khi nói về người trẻ và mạng xã hội, đôi khi người ta giải thích mọi thứ bằng một từ: “dopamine”. Khoa học phức tạp hơn. Các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và công nghệ số cho thấy tác động của mạng xã hội thay đổi tùy người, cách sử dụng, hoàn cảnh, loại nội dung và đặc điểm của nền tảng. Candice Odgers và Michaeline Jensen cảnh báo rằng các tuyên bố đơn giản về mối quan hệ giữa thời gian sử dụng màn hình và sức khỏe tâm thần thường đi xa hơn bằng chứng hiện có.[17]

Sự thận trọng này rất phù hợp với cách tiếp cận của Giáo Hội. Mục tiêu không phải tạo ra hoảng sợ đạo đức về công nghệ. Mục tiêu là phân định. Thay vì hỏi chung chung “điện thoại tốt hay xấu?”, cần hỏi cụ thể hơn: Ứng dụng này đang làm gì với khả năng chú ý của tôi? Sau khi sử dụng nó, tôi có bình an hơn không? Tôi có còn khả năng ở lại trong thinh lặng không? Nó giúp tôi đến gần người khác hay khiến tôi chỉ quan sát đời người khác? Tôi đang chủ động chọn nội dung hay thuật toán đang quyết định phần lớn những gì tôi nhìn thấy?

4. “Trái tim tôi đang yêu điều gì?”

Ở đây, thánh Âugustinô đem lại một chìa khóa đặc biệt sâu sắc. Trong De civitate Dei, ngài viết rằng hai tình yêu đã làm nên hai thành: tình yêu bản thân đến mức khinh chê Thiên Chúa và tình yêu Thiên Chúa đến mức thoát khỏi sự quy hướng mọi sự về bản thân.[18] Magnifica Humanitas trực tiếp sử dụng tư tưởng này khi nói về kỷ nguyên AI. Đức Lêô XIV kết luận rằng Babel hay Giêrusalem trước hết bắt đầu trong chính trái tim con người.[19]

Điều ấy đưa vấn đề từ màn hình trở về nội tâm. Thuật toán có sức mạnh vì nó dựa vào ham muốn. Nó biết tôi thích gì. Nó học điều gì khiến tôi tức giận. Nó nhận ra điều gì làm tôi tò mò. Nó có thể đoán loại hình ảnh nào khiến tôi dừng lại. Nhưng thuật toán không quyết định câu hỏi sâu nhất: Tôi muốn học cách yêu điều gì? Đó là nơi tự do tinh thần bắt đầu.

5. Tiết độ kỹ thuật số như một hình thức tự do

Magnifica Humanitas đề nghị giáo dục về digital sobriety – có thể dịch là sự tiết độ kỹ thuật số.[20] Tiết độ không phải ghét bỏ thú vui. Trong truyền thống luân lý Kitô giáo, đức tiết độ giúp con người sử dụng các điều tốt theo một trật tự đúng.

Bởi vậy, “chay kỹ thuật số” có thể là một thực hành có ý nghĩa nếu được hiểu đúng. Tắt điện thoại một giờ không làm ai thánh thiện cách tự động. Nhưng chủ động tạo khoảng trống khỏi màn hình có thể giúp ta khám phá một sự thật khá khó chịu: mình có còn khả năng không cầm điện thoại hay không?

Một người trẻ có thể thử: để điện thoại ngoài phòng khi cầu nguyện; không mở mạng xã hội trong giờ đầu tiên sau khi thức dậy; ăn một bữa với bạn bè mà không để điện thoại trên bàn; đọc sách hai mươi phút mà không chuyển ứng dụng; đi bộ mà không đeo tai nghe; ngồi trước Thánh Thể mà không cần sản xuất một nội dung nào. Những việc rất nhỏ ấy có thể trở thành trường học của tự do.

IV. “Tương lai của tôi còn chỗ đứng không?” 
Công việc, ơn gọi và hy vọng trong nền kinh tế AI

1. Nỗi lo của người trẻ là có thật

Đối với nhiều người trẻ, AI không phải một cuộc tranh luận triết học xa xôi. Nó liên quan trực tiếp đến tương lai nghề nghiệp. Liệu nghề của tôi có bị thay thế? Ngành tôi đang học có còn cần thiết sau năm năm nữa? Tôi nên học gì? Có nên chọn một nghề mà AI khó thay thế?

Magnifica Humanitas nhìn nhận rất rõ sự bất an này. Văn kiện dành riêng một phần cho “gia đình và người trẻ: những điều kiện xã hội của niềm hy vọng”. Đức Lêô XIV nhận xét rằng tình trạng bấp bênh việc làm đặc biệt nghiêm trọng đối với người trẻ. Công việc là nơi hình thành căn tính, phát triển tương quan, học trách nhiệm và phân định ơn gọi.[21] Đây là một điểm rất quan trọng. Mất việc không chỉ có nghĩa là mất thu nhập. Nó có thể làm xáo trộn một phần căn tính và kế hoạch đời sống.

2. AI sẽ thay đổi công việc nhiều hơn là xóa sạch công việc

Các dự đoán về AI và thị trường lao động thường rơi vào hai cực: một bên hứa hẹn một thế giới nơi máy móc giải phóng con người khỏi lao động; bên kia dự báo thất nghiệp hàng loạt. Các dữ liệu hiện nay đòi hỏi cách nhìn thận trọng hơn. Nghiên cứu năm 2025 của Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính khoảng một phần tư người lao động toàn cầu đang làm những nghề có mức độ tiếp xúc nào đó với AI tạo sinh. Tuy nhiên, vì đa số nghề nghiệp gồm nhiều loại nhiệm vụ và vẫn cần sự đóng góp của con người, biến đổi công việc được đánh giá là kết quả có khả năng xảy ra rộng hơn việc thay thế hoàn toàn người lao động.[22]

Điều ấy không loại bỏ các vấn đề nghiêm trọng. Một số công việc có thể biến mất. Một số kỹ năng mất giá nhanh chóng. Khoảng cách giữa những người có khả năng thích nghi và những người thiếu cơ hội đào tạo có thể tăng. Vì vậy Magnifica Humanitas nhấn mạnh việc đào tạo lại, cập nhật kỹ năng và tạo điều kiện để sự chuyển đổi nghề nghiệp không trở thành một cuộc tuyển chọn tàn nhẫn giữa những người có cơ hội học thêm và những người bị bỏ lại phía sau.

3. “Lao động dành cho con người”

Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đem lại một nguyên tắc rất mạnh để đọc cuộc chuyển đổi này. Trong Laborem exercens, thánh Gioan Phaolô II phân biệt chiều kích khách quan và chủ quan của lao động. Máy móc, công nghệ, quy trình và sản phẩm thuộc chiều kích khách quan. Nhưng chủ thể của lao động luôn là con người.[23] Nguyên tắc này đảo ngược một cách suy nghĩ rất phổ biến.

Câu hỏi không thể chỉ là: “Làm sao dùng AI để tăng năng suất?” Cần hỏi thêm: “Năng suất tăng lên để phục vụ đời sống của ai?” Nếu một doanh nghiệp dùng AI để loại bỏ những công việc nguy hiểm và giúp người lao động có thêm thời gian cho công việc sáng tạo, kỹ thuật phục vụ con người. Nếu cùng một công nghệ được dùng chủ yếu để giảm lao động bằng mọi giá, đẩy hàng nghìn người vào tình trạng bấp bênh trong khi lợi ích tập trung vào một nhóm nhỏ, một vấn đề công bằng xã hội xuất hiện. Con người không sinh ra để phục vụ nền kinh tế. Nền kinh tế phải phục vụ con người.

4. Nghề nghiệp và ơn gọi không hoàn toàn giống nhau

Đây là nơi thần học về ơn gọi có thể mang lại nhiều hy vọng cho người trẻ. Một người có thể đổi nghề nhiều lần trong đời. Ơn gọi sâu xa của người ấy không vì thế biến mất. Trong Christus vivit, Đức Phanxicô nhìn nhận rằng công việc có ảnh hưởng lớn đến căn tính của người trẻ, đồng thời khuyến khích họ tiếp tục phân định tiếng gọi của Thiên Chúa ngay giữa một thị trường lao động không ổn định. Ngài nhắc người trẻ đừng chôn vùi những khát vọng sâu xa nhất của mình, ngay cả khi hoàn cảnh khiến họ chưa thể sống ơn gọi ấy cách hoàn hảo.[24]

Một giáo viên có thể chuyển sang làm công việc khác mà vẫn mang trong mình ơn gọi giáo dục. Một kỹ sư có thể thay đổi chuyên ngành nhưng vẫn sống ơn gọi dùng trí tuệ để phục vụ con người. Một bác sĩ sử dụng AI không mất ơn gọi chữa lành; công nghệ có thể giúp ngài thực hiện ơn gọi ấy tốt hơn. Một người thất nghiệp cũng không mất phẩm giá và sứ mạng chỉ vì hiện tại không có một chức danh nghề nghiệp. Có một ơn gọi còn căn bản hơn mọi nghề: ơn gọi trở nên con người theo hình ảnh Đức Kitô.

5. Khi AI lấy đi một nhiệm vụ, chúng ta phải hỏi nhiệm vụ ấy có ý nghĩa gì

Một cách phản ứng trước AI là cố bảo vệ mọi công việc hiện tại bằng mọi giá. Điều đó không thực tế. Trong lịch sử, công nghệ nhiều lần thay đổi hình thức lao động. Vấn đề luân lý quan trọng hơn là bảo đảm rằng sự thay đổi ấy hướng đến phát triển con người toàn diện. Có những công việc lặp đi lặp lại, nguy hiểm và làm hao mòn sức khỏe mà máy móc có thể đảm nhận tốt hơn. Nếu AI giải phóng con người khỏi những nhiệm vụ ấy, đó có thể là một tiến bộ.

Nhưng thời gian và nguồn lực được giải phóng đi đâu? Nếu lợi ích chỉ được chuyển thành lợi nhuận cao hơn, người lao động chưa chắc được sống tốt hơn. Nếu tiến bộ tạo điều kiện cho thời gian nghỉ ngơi, gia đình, giáo dục, chăm sóc và sáng tạo, công nghệ thực sự mở ra một khả năng nhân bản mới. Đây chính là câu hỏi của Magnifica Humanitas: chúng ta đang “có nhiều hơn”, hay đang “trở nên hơn”?

V. “Bạn đang xây Babel hay Giêrusalem?” 
Người trẻ và nền văn minh tình yêu

1. Hai công trình, hai cách hiểu về tiến bộ

Một trong những nét sáng tạo nhất của Magnifica Humanitas là sử dụng hai hình ảnh Kinh Thánh để nói về kỹ thuật.

Hình ảnh thứ nhất là Babel (St 11,1-9).

Con người xây một thành phố và một tháp vươn tới trời. Họ có một ngôn ngữ, một kỹ thuật và một mục tiêu. Dự án rất hiệu quả. Nhưng đằng sau nó là khát vọng “làm nên danh mình”, tự bảo đảm tương lai và xây dựng sức mạnh bằng một sự đồng nhất loại trừ khác biệt.

Theo cách đọc của Đức Lêô XIV, Babel trở thành biểu tượng của một nền văn minh đánh đổi phẩm giá con người lấy hiệu quả, biến điều đa dạng thành điều cần loại bỏ và tin rằng mọi thứ – kể cả mầu nhiệm của nhân vị – đều có thể được chuyển thành dữ liệu và hiệu suất.[25]

Hình ảnh thứ hai là Giêrusalem thời Nơkhemia.

Thành phố nằm trong đổ nát. Nơkhemia không bắt đầu bằng một dự án phô trương. Ông cầu nguyện. Ông quan sát. Ông lắng nghe. Rồi từng gia đình nhận một phần tường để xây. Các tư tế, thợ thủ công, gia đình, phụ nữ và người trẻ cùng tham gia. Thành phố sống lại bằng trách nhiệm được chia sẻ.

Hai câu chuyện đặt ra hai cách sử dụng sức mạnh. Babel hỏi: Làm thế nào để chúng ta mạnh hơn? Giêrusalem hỏi: Làm thế nào để chúng ta cùng xây một nơi mọi người có thể sống?

2. Babel ngày nay có thể nằm trong túi quần

Babel hiện đại không nhất thiết là một tòa tháp khổng lồ. Nó có thể xuất hiện trong một nền văn hóa nơi con người được đo bằng dữ liệu. Nó có thể xuất hiện khi giá trị cá nhân bị rút gọn thành điểm số, lượt thích, lượt xem và năng suất. Nó có thể xuất hiện khi một nhóm nhỏ nắm quyền kiểm soát dữ liệu của hàng tỷ người. Nó có thể xuất hiện khi thuật toán tạo ra những “bong bóng” nơi chúng ta chỉ gặp người giống mình.

Và Babel có thể xuất hiện trong chính cách chúng ta nói. Mạng xã hội đã tạo ra khả năng để một lời nói trong vài giây có thể đến với hàng nghìn người. Điều đó tạo ra cơ hội lớn cho Tin Mừng, giáo dục và sự liên đới. Nó cũng khiến giận dữ, vu khống và xúc phạm có thể lan truyền với tốc độ tương tự.

Đức Phanxicô từng nhận xét trong Fratelli tutti rằng những trao đổi trên mạng xã hội dễ trở thành các cuộc độc thoại song song, nơi người ta nói nhiều nhưng ít gặp gỡ nhau thực sự.[26] Magnifica Humanitas đi đến một lời kêu gọi rất cụ thể: “Hãy giải giới lời nói.” Đức Lêô XIV nhấn mạnh rằng đóng góp đầu tiên cho một nền văn minh nhân bản hơn chính là chú ý đến cách chúng ta nói về người khác.[27]

3. Một bình luận trên Facebook cũng có thể là vấn đề luân lý

Điều này rất gần với đời sống người trẻ. Tôi chia sẻ thông tin này vì nó đúng, hay vì nó khiến phe của tôi thắng? Tôi đăng hình người khác để làm gì? Tôi có thể phản bác một quan điểm mà vẫn tôn trọng người nói không? Tôi có thấy phía bên kia là con người, hay chỉ là một tài khoản? Tôi có đang góp phần làm sự thật rõ hơn, hay chỉ thêm một tiếng ồn?

Một nền văn minh tình yêu bắt đầu từ những lựa chọn rất nhỏ như thế. Magnifica Humanitas khẳng định rằng không ai hoàn toàn không có trách nhiệm. Có người quyết định chính sách, người điều hành công ty, người phát triển AI, nhà giáo dục và nhà báo; nhưng người sống đời bình thường cũng có một phần công việc của mình.[28] Ở đây hình ảnh Nơkhemia trở nên rất đẹp. Không ai xây cả bức tường. Mỗi người xây phần của mình.

4. Nhìn thế giới từ phía những người bị tổn thương

Một nguyên tắc khác của Magnifica Humanitas là “mang lấy cái nhìn của nạn nhân”. Khi công nghệ được thảo luận hoàn toàn từ phía người hưởng lợi, chúng ta dễ nhìn thấy tiện ích mà không thấy cái giá phải trả. Đằng sau một thiết bị điện tử có các chuỗi khai thác khoáng sản. Đằng sau nhiều hệ thống AI có lao động gắn nhãn dữ liệu và kiểm duyệt nội dung.

Magnifica Humanitas lưu ý rằng hàng triệu người làm những công việc kỹ thuật số ít được nhìn thấy, trong đó có nhiều người trẻ và nhiều phụ nữ làm việc với mức lương thấp; đồng thời văn kiện đề cập đến điều kiện nguy hiểm trong một số chuỗi cung ứng nguyên liệu cho công nghệ.[29]

Điều này đưa Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đến một câu hỏi rất thực tế: ai đang trả giá cho sự tiện lợi của tôi? Một công nghệ thực sự nhân bản phải được đánh giá từ phía những người dễ bị tổn thương nhất. Đó là lý do các nguyên tắc phẩm giá con người, công ích, liên đới, bổ trợ và mục đích phổ quát của của cải vẫn rất thời sự trong thời đại AI.

5. Từ hai thành đến hai tình yêu

Ở cuối chương về AI, Đức Lêô XIV trở lại với thánh Âugustinô. Hai thành được xây bởi hai tình yêu. Điều đó có nghĩa là công nghệ cuối cùng vẫn dẫn chúng ta trở lại câu hỏi về trái tim.

Một kỹ sư viết thuật toán cũng hành động từ những giá trị. Một doanh nghiệp thiết kế nền tảng cũng mang một quan niệm về điều đáng theo đuổi. Một người sử dụng mạng xã hội cũng lựa chọn điều mình muốn nuôi dưỡng. Một chính phủ sử dụng AI cũng phải quyết định phẩm giá hay quyền lực sẽ giữ vị trí ưu tiên.

Bởi vậy, AI không tạo ra cuộc chiến hoàn toàn mới. Nó phóng đại một cuộc chiến đã có từ lâu trong lòng người: giữa ý muốn chiếm hữu và khả năng trao ban; giữa thống trị và phục vụ; giữa tự quy hướng về mình và hiệp thông. Babel và Giêrusalem bắt đầu trong chính những tình yêu ấy.

VI. Một hành trình dành cho người trẻ: từ “Tôi là ai?” đến “Tôi muốn xây dựng thế giới nào?”

Nếu đọc Magnifica Humanitas như một chuỗi quy định về AI, người trẻ có thể cảm thấy văn kiện xa lạ. Nếu đọc văn kiện như một hành trình khám phá bản thân, cấu trúc của nó trở nên gần gũi hơn nhiều.

1. Tôi là ai?

Tôi không phải là tổng số dữ liệu về mình. Tôi không phải là thành tích của mình. Tôi không phải là mức lương tương lai của mình. Tôi là một nhân vị được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, có thân xác, lịch sử, khả năng yêu thương, lương tâm, tự do và ơn gọi hiệp thông.

2. Tôi suy nghĩ thế nào?

Tôi có thể dùng AI để học. Nhưng tôi phải bảo vệ khả năng tự đặt câu hỏi. Tôi phải học kiểm chứng. Tôi phải có khả năng ở lại với những điều khó. Tôi phải phân biệt giữa có câu trả lời và hiểu sự thật.

3. Tôi có thực sự tự do không?

Tự do không được đo bằng số lượng lựa chọn trên màn hình. Tự do thể hiện ở khả năng chọn điều thiện ngay cả khi một hệ thống đang cố giữ sự chú ý của tôi ở nơi khác. Người tự do có thể sử dụng công nghệ và cũng có thể đặt nó xuống.

4. Tôi sẽ làm gì với cuộc đời mình?

Một nghề có thể thay đổi. Một công việc có thể biến mất. Kỹ năng phải được học lại. Nhưng ơn gọi căn bản vẫn còn: phát triển những khả năng Thiên Chúa trao ban và dùng chúng để phục vụ người khác.

5. Tôi muốn xây dựng thế giới nào?

Mỗi cú nhấp chuột, mỗi bài đăng, mỗi sản phẩm, mỗi quyết định nghề nghiệp và mỗi tương quan đều góp một viên đá. Vấn đề là viên đá ấy thuộc về công trình nào. Babel hay Giêrusalem?

 

Điều máy móc không thể lấy khỏi con người

Sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo buộc con người phải đối diện một câu hỏi mà có lẽ lâu nay chúng ta đã né tránh: giá trị của một con người nằm ở đâu? Nếu giá trị ấy nằm trong khả năng tính toán, máy tính đã thắng chúng ta từ lâu. Nếu nằm trong khả năng ghi nhớ, cơ sở dữ liệu vượt chúng ta. Nếu nằm trong tốc độ sản xuất văn bản, AI tạo sinh có thể khiến nhiều người nản lòng. Nhưng Magnifica Humanitas mở ra một cách nhìn khác. Con người không trở thành cao cả vì có thể làm mọi thứ. Sự cao cả của con người được tỏ lộ trong khả năng hướng về chân lý, chọn điều thiện, chịu trách nhiệm, bước vào tương quan, yêu thương và trao ban chính mình.

Con người có thể tha thứ. Con người có thể hối cải. Con người có thể hy sinh vì người khác. Con người có thể đứng trước một nỗi đau và quyết định ở lại. Con người có thể cầu nguyện. Con người có thể nhận ra mình được Thiên Chúa yêu và đáp lại tình yêu ấy. AI có thể tạo ra câu “Tôi yêu bạn”. Nhưng chỉ một nhân vị mới có thể thực sự trao chính mình trong tình yêu. Đó là lý do mầu nhiệm con người cuối cùng phải được nhìn trong Đức Giê-su Kitô. Ngôi Lời đã làm người không đến để giải phóng chúng ta khỏi nhân tính. Ngài cho thấy vẻ đẹp viên mãn của nhân tính. Vì thế, câu hỏi lớn của thời đại AI sẽ không chỉ là máy móc còn tiến xa đến đâu.

Câu hỏi dành cho người trẻ sâu hơn:

Khi công nghệ ngày càng mạnh, tôi có trở nên nhân bản hơn không? Tôi có biết sự thật hơn không? Tôi có tự do hơn không? Tôi có yêu tốt hơn không? Tôi có gần người khác hơn không? Tôi có biết quan tâm đến người yếu thế hơn không? Tôi có sử dụng trí thông minh của mình để phục vụ hay để thống trị?

Đức Lêô XIV không kết thúc Magnifica Humanitas bằng lời kêu gọi sợ hãi tương lai. Văn kiện hướng về trách nhiệm và hy vọng. Không ai phải xây toàn bộ thế giới. Mỗi người có “phần tường” của mình. Người trẻ hôm nay vì thế không đứng trước lựa chọn giữa công nghệ và đức tin. Họ đứng trước một lựa chọn sâu hơn: dùng sức mạnh mới để xây Babel, hay biến chính sức mạnh ấy thành vật liệu để tái thiết Giêrusalem.

Và như thánh Âugustinô nhắc chúng ta, công trình ấy bắt đầu từ nơi rất gần: từ điều trái tim chúng ta thực sự yêu.

Tổng hợp Lm. André Tuấn, AA.

 

 

Nguồn tham khảo

Dicastery for the Doctrine of the Faith and Dicastery for Culture and Education. Antiqua et nova: Note on the Relationship between Artificial Intelligence and Human Intelligence. January 28, 2025.

Francis. Christus vivit. Post-Synodal Apostolic Exhortation. March 25, 2019.

———. Dilexit nos: Encyclical Letter on the Human and Divine Love of the Heart of Jesus Christ. October 24, 2024.

———. Fratelli tutti: Encyclical Letter on Fraternity and Social Friendship. October 3, 2020.

———. “Address to the G7 Session on Artificial Intelligence.” Borgo Egnazia, June 14, 2024.

John Paul II. Laborem exercens. Encyclical Letter. September 14, 1981.

Leo XIV. Magnifica Humanitas: Encyclical Letter on Safeguarding the Human Person in the Time of Artificial Intelligence. May 15, 2026.

Second Vatican Council. Gaudium et spes: Pastoral Constitution on the Church in the Modern World. December 7, 1965.

Augustine. Confessions. Translated by Henry Chadwick. Oxford: Oxford University Press, 1991.

———. The City of God against the Pagans. Translated by Henry Bettenson. London: Penguin Books, 2003.

 

Gmyrek, Paweł, Janine Berg, Karol Kamiński, Filip Konopczyński, Agnieszka Ładna, Balint Nafradi, Konrad Rosłaniec, and Marek Troszyński. Generative AI and Jobs: A Refined Global Index of Occupational Exposure. ILO Working Paper 140. Geneva: International Labour Organization, 2025. https://doi.org/10.54394/HETP0387.

Miao, Fengchun, and Wayne Holmes. Guidance for Generative AI in Education and Research. Paris: UNESCO, 2023.

Odgers, Candice L., and Michaeline R. Jensen. “Annual Research Review: Adolescent Mental Health in the Digital Age: Facts, Fears, and Future Directions.” Journal of Child Psychology and Psychiatry 61, no. 3 (2020): 336–348. https://doi.org/10.1111/jcpp.13190.

Risko, Evan F., and Sam J. Gilbert. “Cognitive Offloading.” Trends in Cognitive Sciences 20, no. 9 (2016): 676–688. https://doi.org/10.1016/j.tics.2016.07.002.

Sparrow, Betsy, Jenny Liu, and Daniel M. Wegner. “Google Effects on Memory: Cognitive Consequences of Having Information at Our Fingertips.” Science 333, no. 6043 (2011): 776–778. https://doi.org/10.1126/science.1207745.

Susser, Daniel, Beate Roessler, and Helen Nissenbaum. “Online Manipulation: Hidden Influences in a Digital World.” Georgetown Law Technology Review 4 (2019): 1–45.

Zuboff, Shoshana. The Age of Surveillance Capitalism: The Fight for a Human Future at the New Frontier of Power. New York: PublicAffairs, 2019.

[1] Leo XIV, Magnifica Humanitas: Encyclical Letter on Safeguarding the Human Person in the Time of Artificial Intelligence (May 15, 2026), nos. 1–4.

[2] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 129–130.

[3] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 97–100.

[4] Dicastery for the Doctrine of the Faith and Dicastery for Culture and Education, Antiqua et nova: Note on the Relationship between Artificial Intelligence and Human Intelligence (January 28, 2025), nos. 16–34.

[5] Dicastery for the Doctrine of the Faith and Dicastery for Culture and Education, Antiqua et nova, no. 34.

[6] Second Vatican Council, Pastoral Constitution Gaudium et spes (December 7, 1965), no. 22.

[7] Augustine, Confessions, I.1.1, trans. Henry Chadwick (Oxford: Oxford University Press, 1991); see also Leo XIV, Magnifica Humanitas, no. 11.

[8] Francis, Dilexit nos: Encyclical Letter on the Human and Divine Love of the Heart of Jesus Christ (October 24, 2024), nos. 9–17.

[9] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 139–140.

[10] Evan F. Risko and Sam J. Gilbert, “Cognitive Offloading,” Trends in Cognitive Sciences 20, no. 9 (2016): 676–688, https://doi.org/10.1016/j.tics.2016.07.002.

[11] Betsy Sparrow, Jenny Liu, and Daniel M. Wegner, “Google Effects on Memory: Cognitive Consequences of Having Information at Our Fingertips,” Science 333, no. 6043 (2011): 776–778, https://doi.org/10.1126/science.1207745.

[12] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 135–137.

[13] Fengchun Miao and Wayne Holmes, Guidance for Generative AI in Education and Research (Paris: UNESCO, 2023).

[14] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 170–171.

[15] Daniel Susser, Beate Roessler, and Helen Nissenbaum, “Online Manipulation: Hidden Influences in a Digital World,” Georgetown Law Technology Review 4 (2019): 1–45.

[16] Shoshana Zuboff, The Age of Surveillance Capitalism: The Fight for a Human Future at the New Frontier of Power (New York: PublicAffairs, 2019).

[17] Candice L. Odgers and Michaeline R. Jensen, “Annual Research Review: Adolescent Mental Health in the Digital Age: Facts, Fears, and Future Directions,” Journal of Child Psychology and Psychiatry 61, no. 3 (2020): 336–348, https://doi.org/10.1111/jcpp.13190.

[18] Augustine, The City of God against the Pagans, XIV.28, trans. Henry Bettenson (London: Penguin Books, 2003).

[19] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 129–130.

[20] Leo XIV, Magnifica Humanitas, no. 170.

[21] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 165–169.

[22] Paweł Gmyrek et al., Generative AI and Jobs: A Refined Global Index of Occupational Exposure, ILO Working Paper 140 (Geneva: International Labour Organization, 2025), https://doi.org/10.54394/HETP0387.

[23] John Paul II, Laborem exercens (September 14, 1981), no. 6.

[24] Francis, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christus vivit (March 25, 2019), nos. 267–273.

[25] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 7–10.

[26] Francis, Fratelli tutti (October 3, 2020), nos. 49–50, 198–203.

[27] Leo XIV, Magnifica Humanitas, no. 214.

[28] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 212–214.

[29] Leo XIV, Magnifica Humanitas, nos. 172–174.