Sống Mùa Phục Sinh – Sống Đời Thần Hiệp

Chia sẻ đến mọi người cùng đọc

Ngôi Mộ Trống – Nỗi Cô Đơn và Món Quà Thần Linh

Sự phục sinh của Giêsu được xảy ra trong giây phút không ai có thể biết được, ngay cả những lính gác có nhiệm vụ canh giữ cửa mộ. Đó là một bí mật của Thiên Chúa. Những tài liệu có được chỉ ghi lại những hiện tượng sau đó: Ngôi mộ trống rỗng! và có nhiều người sẵn sàng chết để làm chứng là Giêsu đã sống lại và/vì họ đã gặp ngài.

Ngôi mộ trống được ghi lại với những chi tiết rất cụ thể và tự nó không thể làm chứng là Giêsu đã sống lại; nhưng nó là một điểm khởi đầu để suy nghĩ nghiêm túc về sự phục sinh và là điểm kết thúc xác nhận sự sống lại của Giêsu thực sự đã xảy ra trong lịch sử. Hơn thế nữa, ngôi mộ (trống) là biểu tượng của một giới hạn không ai có thể vượt qua được, trừ Giêsu. Biểu tượng này cho phép ta suy tư sâu hơn về một sự thật kinh khủng nhất của con người không ai muốn có, nhưng không ai thoát được: Nỗi cô đơn.

Trong kinh nghiệm sống, tất cả chúng ta đều biết rất rõ nỗi cô đơn là một phần của cuộc sống, và ai cũng có thể nói về một sự thật họ biết chắc chắn nhất chính là sự cô đơn của mình. Cử hành biến cố phục sinh là thời điểm tốt nhất để nhìn lại kinh nghiệm này. Biến cố phục sinh cho ta “ngôi mộ trống” như điểm khởi đầu để ngắm nhìn nỗi cô đơn của mình và chia sẻ nó không phải để ta tìm sự thông cảm; nhưng quan trọng hơn là cám ơn nỗi cô đơn, vì nếu không có nó, ta sẽ không là chính mình trong giây phút hiện tại.

Một cách thông thường, ta nghĩ cô đơn là lúc ta hoàn toàn bị cô lập và không có ai bên cạnh ta. Sự cô đơn về mặt thể chất này gây cho ta những nỗi đau. Nhưng đau hơn là khi ta ở giữa mọi người thân yêu, bạn bè, hoặc giữa những người cùng lý tưởng, nhưng ta vẫn cảm thấy (và có thể thực là như vậy) không ai thực sự hiểu được ta, nhìn thấy hiện hữu thật của ta, nghe được tiếng lòng của ta, nhận ra những biến chuyển bên trong của ta, và đôi khi chính ta lạc lối trong cái vỏ bọc bên ngoài của chính mình. Đây chính là nỗi cô đơn đáng sợ hơn nhiều và nó làm ta thực sự đau đớn.

Dọc theo dòng thời gian, con người dần quen với nỗi cô đơn và đôi khi cô đơn là người duy nhất trong đời ta và chính nó nghiền nát cuộc sống ta. Theo dòng sự kiện và lịch sử, con người sợ cô đơn đến sống chung với mình đến nỗi đã tìm đủ mọi cách để tránh né nó, và đôi khi tránh né nó với những việc làm hết sức ngu ngốc của ta. Tệ hơn là ta sống chung với nó vì bất lực loại nó ra khỏi cuộc đời mình, để rồi ta bị nó sai khiến ta, và mạnh hơn là biến ta thành con người khác không phải là tạo vật mà Thiên Chúa đã thốt lên “thật tuyệt vời” sau ngài tạo dựng.

Không có một giải pháp nào để con người vượt lên giới hạn này cho đến khi Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế chết và sống lại. Giêsu bước vào đời, sống giữa con người trong thế giới này như mọi người; nhưng chính Giêsu và Cha của ngài đưa ra một giải pháp cho nỗi cô đơn. Hơn hai ngàn năm Giêsu bước vào lịch sử, có nhiều người thuộc nhiều thế hệ bỗng kinh nghiệm về Giêsu, và ta gọi những người này là thánh. Họ thuộc mọi lứa tuổi, mọi nền văn hóa, mọi trình độ, mọi cấp bậc trong xã hội, nhưng họ có một điểm chung là họ đã có một người (bạn) luôn thấu hiểu họ một cách trọn vẹn và hoàn hảo đến độ họ không còn cô đơn. Người Ấy hứa và sẵn lòng ở với họ mọi ngày cho đến tận thế.

Người Ấy bước vào đời họ với cái tên “Chúa Ở Cùng Ta”. Chính cái tên này nói lên điều kiện tiên quyết phá tan nỗi cô đơn nơi con người đó là sự hiện diện của Ngài. Người Ấy cũng được gọi là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa Cứu. Thiên Chúa muốn hiện diện với con người và sự hiện diện này nói đến một sự quan tâm đích thực, một sự chú ý duy nhất như thể ta là người duy nhất của ngài. Kế đến là sự thấu hiểu của ngài dành cho ta. Sự thấu hiểu của ngài làm cho ta thấy mình được chấp nhận dù ta có thế nào đi nữa. Sự chấp nhận con người thật của ta, từ sâu thẳm bên trong ta, nơi kín đáo thẳm sâu không ai có thể bước vào hay chạm đến, làm cho nỗi cô đơn không còn được tiếp đón nữa. Sự hiện diện và sự thấu hiểu dẫn đến một tình yêu bền vững, thẳm sâu và vô điều kiện. Không ai trong chúng ta không muốn được yêu. Chính tình yêu đặt dấu chấm hết cho nỗi cô đơn.

Lúc này, Người Ấy đang ở đâu?

Với ngôi mộ trống và với đức tin chân thành, người kitô tin Người Ấy đang sống. Chỉ khi sống, ta mới có thể hiện diện, mới có thể ở cùng, mới thấu hiểu và yêu ta được. Một xác chết thì không bao giờ có thể làm được những điều đó. Đối với người kitô, sự phục sinh của Giêsu chính là món quà không gì có thể thay thế. Nó chính là ơn cứu độ mà con người hằng chờ đợi mong ngóng. Thiên Chúa và Giêsu vẫn chờ, chờ giây phút ta hoàn toàn tự do chấp nhận món quà đó, để ta có thể hiện diện, thấu hiểu, và yêu Chúa.

Ta cần tập sống với biến cố phục sinh. Hội Thánh mời ta cử hành mỗi năm như lời nhắc nhở ta trưởng thành hơn trong đức tin, không phải cho Chúa, nhưng cho ta không còn cô đơn nữa. Sống với biến cố phục sinh trong đời thường sẽ giúp ta có được sự thần hiệp dài lâu. Chính sự thần hiệp này là dấu chỉ của một người được cứu độ, một người sống trong Thần Khí và một người sống đời sống mới.

Với đức tin, ta biết Chúa hiện diện trong từng khoảng khắc của cuộc đời ta, ngay cả chính khoảng khắc này, dù ta đang có đau khổ bủa vây và trĩu nặng bởi tội lỗi. Hãy đặt Thiên Chúa và Giêsu là ưu tiên đầu tiên hết của đời ta; như chính ngài đã xem ta là người tình duy nhất của ngài. Chính ưu tiên này làm ta hiện diện trước mặt ngài. Khi sự hiện diện của ta chạm được sự hiện diện của ngài, ta phần nào thấu hiểu ngài và nhận ra sự thấu hiểu của ngài dành cho ta. Chính Thiên Chúa hiểu ta từ bên trong, như chính ta hiểu mình. Việc nhận ra này giúp ta nhận ra sự thấu hiểu của Thiên Chúa gấp trăm ngàn lần và ngài hiểu ta hơn chính ta hiểu mình (Th. Âutinh). Khi ta kinh nghiệm được sự thấu hiểu trọn vẹn của Thiên Chúa, ta cũng kinh nghiệm sự chấp nhận của ngài. Chính kinh nghiệm này giúp ta cố gắng hiện diện trước Thiên Chúa nhiều hơn, thấu hiểu ngài nhiều hơn, và một cách tự nhiên, ta gạt bỏ mọi thứ bên ngoài để sẵn sàng cho giây phút thần hiệp từ sâu thẳm của nội tâm.

Nỗi cô đơn là kết quả của phận người tội lỗi. Với những yếu đuối của phận người đôi khi ta cho phép tội lỗi bên ngoài bước vào trong hiện hữu của ta. Tội lỗi không phải là ta và Thiên Chúa luôn hiện hữu với ta dù ta là tội nhân. Nơi nào có sự hiện diện của ngài, sẽ không còn có tội. Những cám dỗ ngọt ngào không bao giờ đến từ Thiên Chúa. Ngài thấu hiểu ta dù ta yếu đuối, nhưng không bao giờ từ bỏ ta. Đôi khi, Thiên Chúa phải lớn tiếng để đánh thức ta, cho ta thức tỉnh giữa/trong cơn mê (Th. Âutinh).

Với việc tuyên xưng Chúa là Tình Yêu, ta biết Thiên Chúa yêu tôi vì muốn điều tốt nhất cho tôi chứ không phải vì điều gì khác. Có lẽ không điều tốt nhất nào có thể sánh được việc không còn cô đơn. Sự phục sinh là một bằng chứng hùng hồn nhất về điều thiện hảo Thiên Chúa muốn cho ta. Nếu nấm mồ là đỉnh cao của giới hạn và là tận cùng của thất bại, thì sự phục sinh là một món quà của tình yêu. Chính Giêsu tuyên bố “Thầy không để các con mồ côi”, nghĩa là không để ta bị cái chết thống trị, không để ta hẹn hò nơi nấm mồ dù đó là của ai. Chính Giêsu cũng đã nói “Thầy gọi các con là bạn (tình)” để ta có thể trút cạn nỗi lòng mình, chia sẻ sự sâu thẳm nhất của hiện hữu ta; và ta có thể bắt đầu những điều đó từ trần thế này. Với đức tin, ta biết Giêsu không nuốt lời, nghĩa là dù cả vũ trụ này qua đi, kể cả những người thân cận nhất, ta vẫn còn một người không bao giờ để ta cô đơn vì Người Ấy rất muốn làm bạn với ta, để lấp đầy những khoảng trống cô đơn trong hồn ta.

Khi càng cử hành biến cố phục sinh, ta càng sống thấm thía về cách vượt qua nỗi cô đơn. Càng kinh nghiệm về sự phục sinh, mọi mối quan hệ của ta sẽ tốt dần lên và nỗi cô đơn sẽ tan biến. Có lẽ đây là lý do hiện hữu của Hội Thánh. Giêsu thiết lập Hội Thánh và đặt vào lòng Hội Thánh một cử hành như một giao ước muôn đời. Một giao ước của sự hiện diện, của sự thấu hiểu, và của một tình yêu thẳm sâu. Từ cử hành này, lịch sử cứu độ được tiếp tục viết bằng cuộc sống của những thành viên: biết yêu thương và giúp đỡ nhau hiện diện trước Chúa bằng cách hiện diện với nhau, thấu hiểu Thiên Chúa bằng cách thấu hiểu những hình ảnh sống động của ngài giữa đời, và yêu Thiên Chúa bằng cách yêu những con người bằng xương bằng thịt cụ thể ta gặp gỡ và cùng cử hành đức tin.

Giờ đây, Người Ấy đang ở đâu?

Nếu bạn là người không tin và bạn đang cô đơn, con người bạn đang tìm kiếm để lấp đầy nỗi cô đơn là ai? Một người bạn, người phối ngẫu, là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em, là người yêu tôi hay người tôi yêu? Tất cả họ, bạn đều đã có kinh nghiệm là chính họ cũng đã tìm bạn để lấp đầy cô đơn của họ và bạn biết rất rõ là bạn không thể giúp gì được cho họ. Đây là một sự thật! Nêu ra đây không phải để ta cảm thấy tội lỗi, nhưng là một lời mời gọi bạn chân thành quỳ xuống cầu xin một Đấng có thể thay bạn làm điều đó cho những người bạn yêu thương đang cố xóa đi nỗi cô đơn như chính bạn đang làm. Nếu bạn chân thành, ngôi mộ trống của Giêsu có thể là điểm đến của bạn trong hành trình tìm kiếm. Nếu bạn mở lòng với ân sủng, bạn sẽ được trao tặng món quà phục sinh. Nếu bạn đón nhận, món quà đó sẽ cho bạn đời sống mới, một đời sống không còn cô đơn và tràn đầy những khoảng khắc thần hiệp.

Nhìn lại cử hành phục sinh và những diễn tả về ngôi mộ trống, ta phải vô cùng biết ơn tất cả những nỗi cô đơn mà ta từng trải qua. Bởi lẽ không có cô đơn, không có ngôi mộ trống, ta sẽ không bao giờ thực sự biết Người Ấy, và kết quả là chính ta cũng sẽ không bao giờ thực sự hiểu được chính bản thân mình: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.” (St. Âutinh).

Càng cử hành phục sinh, ngôi mộ trống (nỗi cô đơn) sẽ không còn là điều đáng sợ. Ngôi mộ trống như thỏi nam châm kéo ta về và dạy ta quỳ xuống cho đến khi ta tự do thốt lên: “Lạy Chúa của con!” Khi đó, ngôi mộ trống như dấu chấm hết cho cuộc tìm kiếm, vì ta đã về được “nhà mình”, nơi ta tuyên xưng và làm chứng cho sự phục sinh của Giêsu. Ngôi nhà đó là nơi ngập tràn sự bình an của thần hiệp làm ta sống đời mới giữa những gì bình thường nhất của phận người, của cuộc đời, và giữa sự chơi vơi của cõi lòng cô đơn. Ôi Phục Sinh! Món quà thần linh!

Người Lữ Hành
Mùa Phục Sinh 2026