Xin Cho Con Biết Chúa, Xin Cho Con Biết Con

Chia sẻ đến mọi người cùng đọc

Suy niệm Chúa Nhật XXI Thường Niên – Năm A

Có những câu hỏi chúng ta có thể trả lời bằng trí nhớ. Có những câu hỏi cần đến kiến thức và kinh nghiệm. Nhưng cũng có những câu hỏi, càng sống lâu chúng ta càng thấy mình phải dành cả cuộc đời để trả lời. Câu hỏi Đức Giê-su đặt cho các môn đệ hôm nay thuộc loại ấy: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Ban đầu, Chúa hỏi về dư luận: “Người ta nói Con Người là ai?” Các môn đệ trả lời rất nhanh. Người ta bảo Thầy là Gioan Tẩy Giả, là Êlia, Giêrêmia hay một ngôn sứ nào đó. Đó là những câu trả lời đúng theo những gì họ đã nghe. Nhưng Đức Giê-su không dừng lại ở những điều người khác nghĩ về Người. Người đưa các môn đệ đến chỗ không thể núp sau đám đông nữa: “Còn anh em?”

Câu hỏi ấy làm cho Tin Mừng trở nên rất gần với lời cầu nguyện mang đậm tinh thần thánh Âugustinô: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con”.

Thoạt nghe, đó dường như là hai điều khác nhau. Một bên là Thiên Chúa, một bên là con người. Nhưng kinh nghiệm thiêng liêng cho thấy chúng liên hệ rất sâu xa. Khi con người thực sự tiến gần Thiên Chúa, họ bắt đầu nhìn chính mình rõ hơn. Và khi dám đi vào chiều sâu của lòng mình, họ cũng nhận ra một khoảng trống mà chính mình không thể lấp đầy. Con người bắt đầu đi tìm Thiên Chúa.

Điều ấy xảy ra với Phêrô.

Ông nhìn Đức Giê-su và tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Nhưng điều đáng suy nghĩ là ngay sau khi Phêrô nói cho Chúa biết ông tin Người là ai, Đức Giê-su lại nói cho Phêrô biết ông là ai: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá.”

Phêrô nói: “Thầy là Đấng Kitô.”

Đức Giê-su trả lời: “Anh là Phêrô.”

Ở đây có một cuộc gặp gỡ giữa hai căn tính. Phêrô nhận ra Chúa, và trong ánh sáng của Chúa, ông bắt đầu nhận ra chính mình.

Có lẽ đây là điều con người thời nào cũng gặp khó khăn. Chúng ta thường đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” qua cái nhìn của người khác. Tôi là người thành công hay thất bại? Tôi có được kính trọng không? Tôi có tài năng gì? Tôi có bao nhiêu của cải? Tôi giữ chức vụ nào? Người khác nghĩ thế nào về tôi? Dần dần, chúng ta thu gom những đánh giá ấy để xây dựng một hình ảnh về chính mình.

Nhưng hình ảnh đó rất mong manh. Một lời khen có thể làm ta vui cả ngày; một lời phê bình có thể khiến ta mất bình an. Một thành công làm ta cảm thấy mình có giá trị; một thất bại lại khiến ta nghi ngờ chính mình. Nếu căn tính của chúng ta được xây trên những điều ấy, cuộc đời sẽ luôn chao đảo theo ánh mắt của người khác.

Đức Giê-su dẫn Phêrô đi một con đường khác. Muốn biết mình là ai, hãy để Thiên Chúa nói cho mình biết. Điều gây ngạc nhiên là Chúa gọi Phêrô là “Tảng Đá” khi ông vẫn còn rất yếu đuối. Chỉ ít lâu sau, ông sẽ phản đối con đường thập giá. Trong đêm Đức Giê-su bị bắt, ông sẽ ba lần chối Thầy. Con người được gọi là Tảng Đá ấy vẫn còn sợ hãi, vẫn có thể hiểu sai, vẫn có thể ngã.

Nhưng Chúa nhìn thấy nơi Phêrô điều mà Phêrô chưa thể nhìn thấy nơi chính mình. Người không đồng hóa Phêrô với những yếu đuối hiện tại của ông. Người nhìn ông trong ánh sáng của ân sủng và của ơn gọi. Một người đánh cá có thể trở thành Tảng Đá. Một người sẽ chối Thầy có thể trở thành người củng cố đức tin cho anh em. Một con người yếu đuối có thể được Thiên Chúa trao phó một sứ mạng lớn lao.

Vì vậy, “xin cho con biết con” không phải là ngồi phân tích mãi những khuyết điểm của mình. Nếu chỉ nhìn vào mình, có khi chúng ta càng nhìn càng tối. Biết mình theo tinh thần Kitô giáo là nhìn mình trong ánh mắt của Thiên Chúa: nhận ra những giới hạn thật sự của mình, đồng thời nhận ra điều ân sủng có thể thực hiện nơi mình.

Thánh Âugustinô đã nhìn thấy một điều rất tinh tế trong lời tuyên xưng của Phêrô. Các thần ô uế cũng từng nhận biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Vậy tại sao Phêrô được chúc phúc còn chúng bị xua đuổi? Thánh Âugustinô trả lời: “Lời tuyên xưng giống nhau, nhưng việc làm khác nhau.” Các thần ô uế tuyên xưng vì sợ; Phêrô tuyên xưng vì yêu. Và ngay cả tình yêu ấy, theo thánh Âugustinô, Phêrô cũng không thể tự mình tạo ra: chính Chúa Cha đã mặc khải cho ông biết Đức Kitô là ai (x. Bài giảng 183, 13–14).

Như thế, biết Chúa cũng là một ân sủng.

Chúng ta có thể học rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn xa Chúa. Có thể nói đúng về Chúa nhưng lại chưa để Chúa đụng đến những góc sâu nhất của đời mình. Biết Chúa trong ý nghĩa Tin Mừng là để Người bước vào đời tôi, sửa lại cách tôi nghĩ, thay đổi điều tôi yêu, thanh luyện những ham muốn và mở cho tôi một con đường mới.

Và càng để Chúa đi vào, tôi càng nhận ra mình. Tôi nhận ra rằng có những điều tôi gọi là mạnh mẽ thực ra chỉ là kiêu ngạo. Có những điều tôi gọi là khôn ngoan thực ra bắt nguồn từ sợ hãi. Có những điều tôi tưởng là nhiệt thành cho Chúa nhưng lại pha trộn mong muốn khẳng định mình. Tôi cũng nhận ra những khả năng Chúa đã đặt trong tôi mà lâu nay tôi không dám tin, những ơn gọi tôi đang né tránh, những điều tốt đẹp mà ân sủng đang âm thầm làm lớn lên. Đó chính là kinh nghiệm của Phêrô: khi biết Chúa sâu hơn, ông cũng phải học lại chính mình.

Vì thế, lời cầu “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con” không phải là hai lời cầu đặt cạnh nhau. Đó là một hành trình duy nhất. Càng biết Chúa, tôi càng biết mình là thụ tạo, là người được yêu thương, được tha thứ, được gọi và được sai đi. Càng biết mình, tôi càng hiểu vì sao tôi cần Chúa, cần ân sủng của Người, cần lòng thương xót và cần được Người dẫn dắt mỗi ngày.

Có lẽ sau tất cả những suy tư ấy, chúng ta chỉ cần trở lại trước Đức Giê-su và để Người hỏi lại thật chậm:

“Còn con, con bảo Thầy là ai?”

Và sau khi trả lời: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống,” hãy ở lại trong thinh lặng thêm một chút. Vì có thể lúc ấy Chúa cũng muốn nói cho ta biết một điều rất quan trọng:

“Bây giờ, hãy để Thầy cho con biết con là ai.”

Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa để con biết con. Xin cho con biết con để con càng cần đến Chúa. Xin cho con nhìn thấy sự thật về mình trong ánh sáng lòng thương xót của Chúa, để con đừng tự cao vì những gì con có, cũng đừng thất vọng vì những gì con còn thiếu. Và xin cho con trở thành con người mà từ đời đời Chúa đã yêu thương, kêu gọi và mong muốn con trở thành. Amen.

 

Lm. Anrê Tuấn